Latest Entries »

Test thử xem

Tập 5 Cheo Yong, Thám Tử Săn Ma

 

Từ lập đông đến giờ. trời âm u kéo dài đã hai tuần lễ, cứ cách ngày một, ngày hai lại đỗ mưa, mãi đến hôm nay mới thấy hừng nắng.

Ngày mưa – với những ai đa sầu đa cảm, rất có thể sẽ là điều thú vị; không như tôi, một anh chàng độc thân, chỉ thấy vui lên khi trời quang mây tạnh.

Tôi vươn vai đứng dậy bên bàn giấy, đưa mắt nhìn ra ngòai. Nắng chói chang, những dãi nhà cao tầng gài răng lược san sát hai bên đường được nước mưa rửa sạch, ánh lên một vẻ tươi mới. Văn phòng nơi tôi làm việc ở tầng mười hai. Nhìn xuống con đường cái phía dưới, thỉnh thỏang mới thấy xe chạy qua, không gian rất tĩnh lặng vì được bao bọc bởi lớp cửa kính, hầu như không có tiếng động mà chỉ thấy bóng chiếc xe lướt qua rồi mất hút.

Tôi làm biên tập cho tờ “Tạp chí phổ thông” vừa mới ra đời. Vì việc cấp giấy phép cho số tạp chí là chuyện rất khó nên các lọai tạp chí hiện thời, phần nhiều đều phải mượn tên tạp chí cũ để ra mắt. Số tạp chí này cũng vậy, nó có tên là “Truyền kỳ đại quan biến thể”

“Truyền kỳ đại quan biến thể” vốn là tờ tạp chí lá cải chết yểu từ nhiều năm trước; khi ấy nó được chia phần chút ít trong số những tạp chí lá cải bày bán rất chạy trên các quầy báo. Lúc tôi đang còn là học sinh trung học, vẫn thường bắt gặp các bạn cùng lớp lén lút đem những tạp chí kiểu này, trên bìa có in ảnh những gái đẹp ăn vận hở hang vào trong nhà xí, ngồi đọc một cách rất thích thú.

Tôi có được đọc một số tạp chí, gồm tòan những truyện ” vụ án xé xác người” hoặc “thần quyền chấn động núi non”. Kém theo là những dòng đặc tả mà vào thời điểm bấy giờ được xem là thiếu tính giáo dục. Cho dù nó có góp phần làm phong phú thêm cho đời sống văn hóa của tầng lớp công nhân và học sinh trung học thời ấy, nhưng riêng tôi lại thấy chẳng có cảm tình chút nào. Bởi lẽ có lần tôi trót đọc được một câu chuyện có thể nói là bẩn thỉu trên một cuốn tạp chí. Một kẻ bất nhân, độc ác cộp được gái đẹp đã vờ “văn nhân”, “nho nhã” lần lượt cởi bỏ váy áo trên thân thể người đàn bà, miệng không ngớt thốt lên những lời văn hoa vô lối. Nhưng theo đúng công thức thời ấy, khi mà hắn đã cởi đến bộ đồ lót và chuẩn bị chiếm đọat người phụ nữ thì một hiệp sĩ không biết từ đâu bỗng nhiên nhảy ra , tung quyền quật ngả tên khốn kiếp ngay tại chỗ và cứu được người đẹp.

Câu chuyện về vị đại hiệp này khiến tôi ngứa ngáy đến tận chân răng, chưa kể bút pháp của nó cũng kỳ cục với một lọat những câu dài lê thê có đến ba bốn mươi chữ xuất hiện ở nhiều chỗ trong các trang viết. Khỏang thời gia đó, tôi thường có thói quen đọc nhẩm không thành tiếng song những câu dài ấy khiến tôi ngạt thở. Nếu quá thêm nữa, chắc tôi sẽ bị ngất xỉu. Trong trường hợp có người phát hiện thấy, không chừng người ta sẽ đồn thổi rằng, chỉ vì đọc những đọan văn đó mà tôi bị căng đứt mạch máu. Nếu thật như thế thì tôi đành phải chấp nhận thôi.

Hồi ấy tôi đã nghĩ, nếu là mình viết thì chắc sẽ khá hơn. Nào ngờ mấy chục năm sau, khi tờ tạp chí này mượn danh kẻ khác để đến với công chúng thì tôi lại nghiễn nhiên trở thành biên tập viên chính thức của nó.

Tôi nghe thấy từ tầng dưới, tiếng búa đóng đinh dội lên inh ỏi. Ngôi nhà lớn này vốn được xé lẻ cho bảy tám công ty cùng thuê lại; cách đây ít lâu công ty thuê tầng dưới bị phá sản phải dọn đi, hôm nay một công ty khác mới đến đang gấp gút sửa sang lại nhà cửa. Tiếng búa chát chúa làm đầu tôi nhói lên đau buốt, tường chừng đầu mình cũng hóa thành cây cột đang bị đóng đinh dưới kia. Thế nên tôi quềnh quàng xếp gọn đống giấy tờ trên bàn rồi vội vàng bước ra cửa.

Tạp chí dự định phát hành vào ngày thứ bảy tuần này, hôm nay mới là thứ hai. Cuối tuần, các nhân viên trong tòa sọan đề đi về thực tế ở địa phương, chiều mới tập trung tại văn phòng, chỉ còn tôi và một nhân viên nữa nhận chân giữ chùa. Tiếng là đi lấy ý kiến bạn đọc nhưng thật ra đây chỉ là dịp ông chủ đãi khách và mọi người được một ngày dạo chơi ra vùng ngọai ô. Phần tôi chưa hẳn hết việc, vẫn còn tới hơn ba vạn chữ để chừa trên mặt báo đang chờ bài viết. Tác giả hẹn thứ bảy nộp bài cho tôi, thế mà hôm nay đã là chủ nhật rồi vẫn biệt tăm. Cũng may địa chỉ của ông ta ở trong nội thành; nhân lúc không thể ngồi nổi ở văn phòng, tôi đến thăm ông, luôn thể đi bát phố cũng hay.

Làm tạp chí thì phải hiểu rõ tác giả như lòng bàn tay. Hơn nữa, bây giờ theo chế độ biên tập phụ trách; với mỗi bài viết, người phụ trách biên tập được nhận thêm nhuận bút, vì thế tác giả nổi tiếng luôn là đối tượng tranh chấp của các tạp chí. Cộng tác viên của tôi là Ôn Kiến Quốc, bút danh Ôn Khắc.

Người này tuy có biệt danh rất khó phát âm, nghe chẳng ra đàn ông và cũng không hẳn là đàn bà – Ôn Khắc, nhưng được cái, những gì anh ta viết đều được bạn đọc rất tán thưởng; đó là nhờ lối viết khác người, hơi méo mó, cộng với phần miêu tả sắc dục không đến nỗi phá cách. Vì thế, mặc dù viết chậm song hầu hết những bài viết cũa ông ta đều trót lọt, thoát qua khâu kiểm duyệt.

Ôn Kiến Quốc sống độc thân trong căn nhà một tầng ở trung tâm thành phố. Đây là một căn nhà cũ kỹ, có một cửa sổ và một cửa ra vào. Diện tích hẹp nhưng được cái nó ở vào vị trí “phát tài phát lộc”, nghe đâu là đất thừa kế của tổ tiên. Nếu đem rao bán cũng đủ tiền cưới đến bảy tám bà vợ một lúc. Chẳng hiểu vì sao ông ta chịu thúc thủ ở mãi trong căn nhà chật chội này? Phải chăng vì thủ tục di dời nhà cửa ngày càng phức tạp, khó giải quyết?

Chớm đến đầu hè, tôi cất bước đi lên qua mấy bậc thềm đen sạm và nứt nẻ vì lâu năm không có ai lo việc sửa sang. Giơ tay gõ cửa không thấy ai thưa. Tôi hiểu rõ Ôn Kiến Quốc rất say mê viết nhưng rồi cũng có lúc ông ta vẫn phải dứt ra mà đi đi đâu đó chẳng hạn. Chần chử giây lát, đúng lúc định quay ra, tôi chợt nghe tiếng kẹt cửa.

Vừa nhìn rõ mặt người mới từ trong bước ra, tôi buộc miệng:

– Xin lỗi, không biết tôi có nhầm nhà không, thưa ông ?

Chả là người đứng trước mặt tôi, dáng vẻ dật dờ, sắc mặt sạm đen, hai mắt trũng sâu với xương bã vai nhô lên nhọn hoắt trông chằng khác một cái xác không hồn là mấy. Tôi không còn tin vào mắt mình nữa; tôi mới gặp ông ta cách đây một tháng, lúc ấy, gương mặt ông ta béo tốt với hai vành tai to. So với bây giờ, chỉ còn mỗi bộ kính mắt là giống trước, còn hiện tại rõ ràng đã trở thành một người lạ hoắc. Tôi chưa kịp mở lời đã nghe ông ta cười thành tiếng:

– Ủa… Ngỡ là ai chứ !

Nghe giọng nói của Ôn Kiến Quốc, tôi giật nảy mình, đưa mắt nhìn, vẻ dò hỏi: “Ông… Ông là Ôn Kiến Quốc? ”

– Vâng, xin ông cứ tự nhiên cho.

Chủ nhà kéo lê đôi dép, từ nảy đến giờ ông ta vẫn nằm bẹp trên giường, bây giờ mới hấp tấp chìa tay mời tôi vào nhà. Những ngón tay của ông ta vốn dĩ béo múp, trắng bệch, giờ đây phơi rõ các khớp xương khô lỏng khỏng, trên ngón tay cái có đeo một chiếc nhẫn khác thường. Tôi từng đọc một cuốn sách cổ có nói đến cái thú chơi đồ trang sức, trong đó viết rẳng: nhẫn ở thời buổi ấy có một lọai đeo cho ngón tay cái, tên gọi “ban chỉ”, nó được dùng để kéo dây cung và nỏ, mãi sau này mới trở thành một món trang sức. Thứ nhẫn này hình như không thấy có ở nước ngòai, chẳng trách nó được công nhận là “trang sức độc” của riêng Trung Quốc. Không rõ Ôn Kiến Quốc kiếm đâu ra được chiếc nhẫn làm bằng thứ đồng thau rắn cấc này, đeo nó vào trông thật kỳ dị. Với ai thì chưa biết, chứ một nhà văn cỡ như ông ta, nếu có tật khác đời như thế thì cũng chẳng ai lấy đó làm điều. Tay ông ta chìa ra, chưa kịp bỏ xuống thì sắc mặt đã thất thần, gần như người bị rắn cắn, loay hoay dùng tay xoay chiếc nhẫn đeo trên ngón tay cái.

Tôi rảo bước bám sát sau lưng ông ta:

– Ông không được khỏe phải không, ông Ôn Khắc?

Ông ta đứng khựng, ngỏanh đầu lại, đưa mắt nhìn tôi, sẵng giọng:

– Tôi mà bị ốm ư?

Giọng điệu của ông ta không muốn thừa nhận mình có bệnh, cho nên câu nói của tôi khiến ông ta nghĩ rằng tôi đang rủa ông ta. Nghĩ thế, nên tôi đành phải lựa lời:

– Chỉ tại tôi thấy sắc diện ông không được tươi tỉnh đấy thôi!

Căn phòng của ông ta ở rộng 30 mét được ngăn đôi bằng ván bìa mỏng. Gian ngoài dùng làm bếp và phòng khách mờ tối. Không gian hẹp nên phòng khách chỉ đủ chỗ cho bốn hoặc năm người khách ngồi chơi. Ông kéo ra mốt chiếc ghế dựa, vẻ dồn dã:

– Mời ông ngồi.

Tôi làm theo, nhanh tay lấy từ trong túi xách ra một bọc hoa quả mới mua ở dọc đường đặt lên bàn:

– Thưa ông Ôn Khắc, xin ông vui lòng cho biết về tập truyện ấy. Chắc ông đã viết xong rồi?

Chủ nhà cũng vừa ngồi vào chỗ, người co rúm như sợ rét nhưng không nghe tôi nói gì. Tôi hẵng giọng nói to hơn:

– Tác phẩm của ông đó, mong ông hoản tất cho, thứ bảy này phải lên khuôn đấy!

– Tiểu thuyết? À … Tôi biết rồi, chỉ còn vài trăm chữ nữa là xong. Tôi viết nốt đây, ông ngồi chờ cho chốc lát được chứ?

Ông ta xây lưng đi vào bên trong. Đàn ông chưa vợ, phòng ngũ hẳn là bừa bộn lắm. Thấy ông ta đứng dậy, tôi định bước theo sau lưng nhưng cửa đã đóng sập ngay lại. Đấy là tấm cửa phên dán giấy, có lẽ là tự tay ông ta mới dựng nên, bữa trước tôi đã có dịp đế đây rồi nhưng chưa thấy nó. Liếc mắt nhìn vào bên trong, tôi hông thể thấy gì ngòai cảm giác mọi thứ đều tối om. Dễ thường Ôn Khắc vào đấy chỉ để đi ngũ. Rèm cửa buông xuống tối như bưng và vì nó đưộc may bằng thứ vải chống sáng nên không một tia sáng nào lọt vào nổi. Cả đến cây đèn bàn củng tắc lịm và người ta chỉ còn trông thấy mỗi điểm sáng của máy tính mà thôi.

Lại nói về thói quen của từng người lúc mới sáng tác, tôi vẫn còn nhớ như in về Ôn Kiến Quốc. Cứ mỗi lần ngồi xuống viết, ông ta đều phải có một điếu thuốc, một cốc trà, cửa sổ mở toang, cửa ra vào cũng vậy. Lắm khi ông ta còn bật nhạc MP3 trên máy tính là khác. Còn như những thói quen tôi vừa nhìn thấy, có lẽ là mới bị nhiễm trong thời gian gần đây, kể cả chiếc nhẫn quái dị mà ông ta đeo nữa.

Trở lại với cánh cửa phòng, nó vốn được làm bằng phên tre dán giấy nhưng chắc và kín, không để ánh sáng lọt vào. Bên trong tối đen như phòng dùng cho việc rửa ảnh vậy. Tôi những muốn thử dòm qua khe cửa nhưng nó đã bị bịt kín, chẳng còn trông thấy gì nữa. Áp tai lên bức vách mỏng, chỉ nghe mỗi tiếng đánh máy chữ lách cách đều đều.

Đây rồi, Ôn Kiến Quốc từ trong đi ra. Cửa mở làm tôi giật bắn mình, ông ta đặt chiếc đĩa mềm vào lòng bàn tay tôi rồi nói:

– Đây… ông nhận cho!

Tôi cần đĩa bỏ vào túi nhưng vẫn còn áy náy trong lòng:

– Ông không sao chứ, ông cần tĩnh dưỡng đấy, thưa ông Ôn Khắc?

Có lẽ đây lại là một cảm giác sai lạc nữa của tôi. Vừa rồi ông đi vào đó, chỉ một thóang thôi, nhưng tôi trông ông ta có vẻ tiều tụy hơn nên mới buộc miệng nói vậy. Không dè Ôn Khắc tưởng ra điều gì đó ghê gớm đáng sợ nên mới hỏi vặn:

– Có thật không? Thật như thế hay sao?

Ông ta lao mình ra cửa, ngơ ngác soi mình vào tấm gương treo trên tường. Tôi không ngời ông ta bị bị tự kỷ ám thị đến mức đó. Lúc ấy tôi vội đưa tay đập lên vai ông ta rồi nói:

– Xin ông… Ông hãy nghe tôi.

Né tránh được bàn tay tôi, Ôn Khắc ngỏanh đầu lại hốt hoảng:

– Thật thế chăng…? Sắc mặt tôi xấu lắm rồi phải không ?

Giá như ánh đèn ngòai cửa sáng hơn một chút nữa thì tốt biết mấy, vì bấy giờ tôi vừa kịp phát hiện trên tay ông ta có hộp phấn màu da hồng vốn là đồ trang điểm của các cô gái trẻ. Kỳ cục đến thế là cùng; cho dù Ôn Kiến Quốc muốn hóa thành Hà Lợi Tú đi nữa thì cũng đâu có được. Tôi không ngờ ông ta lại thích như vậy. Mặt ông ta chẳng đã thoa lên một lớp phấn rồi sao. chỉ phải cái cách đánh vụng về lắm. Ban nãy ông ta đứng sấp bóng mới qua được mắt tôi, bây giờ thì tôi thấy nó rõ quá, tựa như một lớp vôi trát dầy lên mặt vậy. Gương mặt Ôn Khắc trông cứng đơ, không chút biểu cảm, có một chỗ lớp phấn khô cứng thành vết rạn chân chim, giống hệt lớp men rạn trên bình hoa.

Tôi rùng mình:

– Ông có sao không, ông Ôn Khắc?

– Cút đi – Hai tay ông ta ôm lấy mặt. – Cút đi! Đừng bao giời đến đây nữa!

Tội sững sốt. Ôn Khắc – coin người xưa nay điềm đạm hòa nhã, sống có tình với mọi người, bây giờ hóa thành cục súc thế sao? Vả chăng thực bụng tôi cũng không còn muốn nấn ná lâu thêm, cứ đi khỏi đây là hơn cả. Tôi nhào ra ngòai cửa y như người trốn chạy, nghe đánh “rầm” một tiếng ở sau lưng và Ôn Kiến Quốc đóng sập cánh cửa lại.

Ra ngoài tôi mới thấy mình hết rét; khác hẳn lúc còn ở trong nhà Ôn Khắc, tôi cứ có cảm giác mình bị ép ngồi trong phòng lạnh, tay chân tê cứng, run lên cầm cập. Nhiệt độ hôm nay không cao nhưng cũng chẳng đến nỗi rét quá, có chăng là nhiệt độ trong nhà Ôn Khắc chênh quá so với bên ngoài. Tôi đã để ý xem xét thêm về ngôi nhà, dễ thường do yếu tố tâm lý, một căn nhà nhỏ cũ kỹ đứng chơ vơ, lọt thỏm giữa những dãy nhà cao tầng, gieo vào lòng người ta cảm giác lạnh lẽo đến rợn người.

Về đến văn phòngthì vừa kịp giờ ăn. Với những ai làm biên tập, cơm trưa là cơm hộp, chỉ cốt no bụng chứ không phải ngon miệng. Như bữa ăn hôm nay chằng hạn, khó nuốt lắm. Món củ cải ninh với thịt mỡ nhừ nát, tôi ăn qua quít cho xong rồi lấy đĩa mềm Ôn Kiến Quốc đưa cho ra xem.

Đó là thứ đĩa mác tạp-pí-lù sản xuất ở trong nước, chất lượng không được tốt nhưng có thể dùng tạm, cũng giống như bữa ăn vội vừa rồi. Đĩa mềm tương tự như các thứ đồ khác sản xuất trong nước, vốn không được tín nhiệm, song gia công tương đối kỹ vẫn sử dụng được; chỉ hiềm một nỗi, chiếc đĩa mà Ôn Khắc đưa cho tôi bị dây một chấm mực. Chẳng hiểu Ôn Kiến Quốc làm gì nên thế. Thời buổi bây giờ còn ai dùng bút lông để đến nỗi bị dây mực.

Đang dùng dằn muốn mở hộp đĩa mềm, tôi bỗng thấy mình bị hoa mắt, cảm giác váng vất trong đầuvà lạnh cả trong bụng nữa. Khi nãy, trong chốc lát, cả người tôi mềm nhũng như bị rơi từ trên cao xuống, giống người thiếu máu nhưng chưa việc gì. Nhưng điều khiến tôi phải suy nghĩ là tôi vừa trông thấy một giọt mực động đậy ngay trên chiếc đĩa mềm. Trông nó giống một giọt thủy ngân màu đen. Nhưng nhìn kỹ lại thì giọt mực nho nhỏ ấy vẫn đúng là giọt mực. Tôi lắc đầu cho tỉnh táo rồi gỡ chiếc đĩa mềm ra, cho vào đĩa A và “copy”.

Câu chuyện của Ôn Kiến Quốc mang tựa đề “Tổ ong” và có nội dung như sau: trong chuyến du lịch nước ngòai, một cặp tình nhân đặt chân đến một làng nhỏ trong núi. Lúc đó trời đã sẫm tối, họ bèm tìm một gia đình nhà nông xin ngủ nhờ một đêm. Đôi tình nhân nhận thấy, tuy trong làng có khá nhiều nhà nhưng lại có rất ít hộ làm nghề nông, hơn nữa, người ở đây, phần đông là người già và trẻ em. Khi trời tối, họ phát hiện dưới mái hiên gia đình nhà nông nọ có một tổ ong to bằng miệng bát và cảm thấy lo lắng. Đêm đến, ( sau đọan mô tả về lối làm tình nhăng nhuội bằng cách viết không đến nỗi lộ liễu quá đáng), họ bị tiếng động làm thức giấc. Không một mảnh vải che thân, họ cùng nhìn ra ngoài cửa sổ.

Đúng lúc này từ ổ đĩa A chợt phát ra tín hiệu “tạch… tạch… tạch”.

Lạ thật, tôi đang trực tiếp đọc văn bản trên đĩa mềm cơ mà. Nghe đâu có lọai virus tấn công bằng cách khiến bạn cứ lần đọc mãi trên mỗi một rãnh từ nhằm phá hỏng chiếc đĩa mà bạn đang sử dụng. Thế nên tôi vội bấm nút ổ A, rút chiếc đĩa ra, kiểm tra kỹ càng một lượt nhưng không thấy dấu vết đáng ngờ. Tôi còn dùng đến cả scandisk để quét ổ cứng. Bởi lẽ đánh hỏng đĩa mềm chỉ là chuyện nhỏ chứ ổ cứng sinh chuyện thì lôi thôi to. Trong đó lưu trữ bản thảo của nhiều tác giả, còn thêm cả bản bông những bài viết đã được hiệu đỉnh cẩn thận. Với dung lượng 20KB, để quét một lượt, phải mất khá nhiều thời gian. Tôi đưa mắt theo dõi những hình vuông màu xanh di chuyển chậm chạp trên màn hình và rút đĩa mềm. Trước đây đã từng có lần phần mềm đồ họa bị format, két quả là toàn bộ minh họa, đồ thị làm xong đều bị mất hết. Và tháng đó, bộ phận biên tập mỹ thuật phải tốn công làm lại từ đầu.

A Di Đà Phật… Đội ơn Đức Chúa, xin đừng bắt chúng con phải tội như thế! – Tôi lầm rầm khấn thầm, trong lúc theo dõi máy vi tính quét virus, quên cả sự thể tôi đã khấn nhập nhằng, lẫn lộn cả hai vị giáo chủ cả hai tôn giáo tiêu biểu cho cả hai phía Đông và Tây. Không biết có chuyện gì xảy ra không?

Rất may, máy tính không có vấn đề gì.

Quét xong virus, tôi cho máy khởi động. Đèn báo và máy trở lại họat động ngon ơ… Tôi thở phào nhẹ nhõm. Từ đây đến ngày tạp chí ra mắt còn không đầy một tuần lễ nữa, nếu chẳng may có gì trục trặc, không chừng chủ nhật này tôi phải thức trắng đêm, làm theo ca, họa may mới kịp.

Cho dù ổ cứng vi tính bị hỏng thì tôi vẫn có cách cho copy lại tiểu thuyết của Ôn Kiến Quốc một lần nữa. Nắm thật chặc trong tay chiếc đĩa mềm Ôn Kiến Quốc đưa cho, tôi có phần yên tâm hơn nhưng cũng chưa giải tỏa hết được lo lắng.

Nhìn bên ngòai chiếc đĩa mềm không có gì khác thường nhưng không hiểu sao, tôi lại cảm thấy nó có gì đó không ổn, cứ biến đổi lúc thế này, lúc thế khác mà không biết thực sự thế nào. Tôi mở hộp ra, lật đi lật lại xem cho kỹ càng, song chỉ thấy đó là một chiếc đĩa bình thường, không có dấu hiệu lạ nào cả. Bất chợt, tôi giật nảy mình.

Vết mực bỗng biến đâu mất ?

Chiếc đĩa bây giờ trông sạch bong, không dây một vết bẩn nào, y như đã được gột rửa bằng nước tấy vậy. Lẽ nào ổ A có cả chức năng làm sạch nữa? Nói vậy chứ dù kiến thức của tôi về máy tính chưa thật đầy đủ, tôi vẫn tin chắc rằng đó là điều không thể có được. Vậy rốt cuộc vết mực ấy biến đi đường nào?

Hoặc giả chưa hề có vết mực ấy, mà chỉ tại lúc đó tôi hoa mắt thôi?

Máy tính đã hiển thị Windows, tôi ngước nhìn màn hình với bầu trời xanh và mây trắng, nín thở vì hồi hộp.

Trên màn hình xuất hiện một vết mực!

Tôi không nhớ thật rõ hình thù vết mực cũ như thế nào nhưng tôi đảm bảo rằng nó không khác gì mấy so với vết mực hiện thị trên màn hình, có chăng chỉ là to hơn chút ít. Vết mực bám vào màn hình trông như một chấm mây đen kẹp giữa vầng mây trắng. Tôi đưa ngón tay trỏ cào khẽ vào đó nhưng đầu ngón tay chỉ đụng vào mặt kính. Vết mực không phải bám trên bề mặt màn hình mà hiển hiện ngay ở bên trong đó.

Có thể như vậy chăng? Tôi biết rằng ổ A đọc bằng đầu từ và những gì đầu từ đọc là thông tin có trong rãnh từ, nó không thể đọc được vết mực có ở ngoài đĩa mềm. Còn nếu như ta cho nó là virus thì đây là một thứ virus không ai có thể tường tượng ra.

Tôi còn trông thấy tận mắt … bây giờ nó xuất hiện trên mặt bàn. Còn vết mực kia vẫn ở nguyên chỗ cũ.

Phải chăng đó là một sự trùng hợp ngẫu nhiên?

Có thể lỗi ở màn hình, còn như vết mực có trên đĩa mềm là do tôi hoa mắt?

Tuy đã tự cắt nghĩa cho mình như thế nhưng tôi vẫn cứ băn khuăn, đứng ngồi không yên. Bởi lẽ chuyện này, thật không sao hiểu nỗi, không chỉ riêng tôi mà với ai ở trường hợp này cũng thế thôi. Tôi kéo bàn phím ra và click nút khởi động nóng. Nghe một tiếng “tịch”, màn hình trở lại tối đen.

Tuy màn hình tối đen nhưng tôi vẫn nhận ra được trong màn đen ấy có một điểm sẫm hơn, đó chính là nơi vết mực đen lúc nãy xuất hiện.

Dứt khóat là do lỗi hiển thị! Chắc đúng rồi!

Máy tính trở lại giao diện khởi động ban đầu… và cũng giống như ban nãy, nó vẫn hiển thị một vết mực đen; nhưng đến đây thì tôi thấy rợn người và ớn lạnh, tưởng mình bị quăng vào một khe sâu đầy tuyết, mình mẩy trần truồng, lo lắng và hoảng sợ.

Lạ một nỗi, vết mực ấy định hình không giống nhau. Không thể giải thích nổi nguyên nhân; khi ở trên màn hình, trông nó to hơn so với ở trên đĩa mềm và trông như nó được vấy lên đó, bắn ra những giọt li ti ở bốn chung quanh. Nếu ta cẩm một cây bút lông chấm đẫm mực để lơ lửng ở phía trên một tờ giấy ít hút mực, rồi cho nhỏ một giọt mực xuống, ta sẽ thấy nó gần giống hệt vết mực ở trên với hình thù “Trùng amip” biến dạng.

Ở vết mực này ẩn chứa một sức mạnh có thể nói là quái dị, khiến tôi gần như bị ngạt thở mỗi khi trông thấy nó. Trong con mắt của tôi, dường như nó ngày càng to ra và cử động ngay trên màn hình, đúng như con trùng biến hình mà người ta trông thấy qua ống kính hiển vi bội số cao.

Tôi vẫn còn nhớ hồi còn là học sinh trung học, có một lần tôi lên lớp nghe giảng bài sinh học, được thầy cho quan sát một giọt nước bẩn lấy từ dưới cống. Nhìn bằng mắt thường chỉ thấy giọt nước vẩn đục, nhưng khi đem nó đậ dưới mắt kính hiển vị , tức thì, một thế giới dị kỳ hiện lêntrước mắt. Ở đó, lúc nhúc và náo lọan vô số những con sinh vật nhỏ bé, hình thù quái đản tranh cướp giành giật lẫn nhau, con nọ nuốt sống con kia. Trong đó có một số mang hình hài y hệt một đống mỡ bầy nhầy, không ngừng thay đổi hình thể, bao bọc chung quanh những chấm nhỏ li ti. Đó chính là “Trùng amip”.

Vậy phải chăng vết mực này cũng là một con trùng biến hình khổng lồ? không hiểu có gì run rủi không mà tôi cứ hình dung ra như thế. Ý nghĩ ấy làm tôi hỏang sợ, bủn rủn cả người. Amip là lọai trùng ký sinh nhỏ bé, người ta chỉ có thể nhìn thấy nó qua kính hiển vi có bội số cao, vì thế giả thiết về một con amip lớn cỡ ấy là điều không thể. Nhưng đúng là hình dạng của giọt mực mà tôi trông thấy và trùng amip giống nhau một cách kỳ lạ. Ngay lúc này đây, chính tôi cũng không biết đó chỉ là cảm giác hay là sự thật. Nhưng rõ ràng trước mắt tôi, vết mực đang động đậy, vẻ như sắp biến hình. Bỗng nhiên có một làn gió lạnh lướt ngang qua sau gáy; giật mình, tôi bấm vào phím khởi động.

Chợt có ai đó gõ cửa, tôi như sực tỉnh ra khỏi cơn mê, ngoảnh đầu lại.

Hóa ra cô đồng nghiệp xinh đẹp đến tận nơi tìm gặp tôi. Tên cô là Lý Đĩnh, một bông hoa của đất Yên Triệu (tức là Hà Bắc) với thân hình thon thả, dong dỏng cao, nước da trắng ngần. Có rất nhiều chàng trai bám theo tán tỉnh cô, tôi – một anh biên tập quèn, nghèo kiết xác, quyền lực chẳng có trong tay đâu dám mơ tường đến gần làm thân. Giá như vào một ngày thường, cô dừng chân ghé qua văn phòng thăm tôi thì tôi sẽ sung sướng đến mức nào, nhưng hôm nay, khi tôi còn đang bàng hòangvới những nỗi lo sợ vẩn vơ không rõ nguyên do, thú thật, tôi đã mất hết khả năng phản ứng.

– Giờ này anh có bận gì với máy tính không? Muốn nhờ anh tí chút vì máy tính của tôi vừa bị lỗi.

Lý Đĩnh với dáng đi yểu điệu, tay cầm chiếc đĩa mềm khác bước đến bên cạnh tôi, thoang thoảng một mùi thơm dịu dàng của nước hoa linh lan. Máy tính nơi chúng tôi làm việc đều có mã số của người sử dụng. Chắc mọi người đi đâu vắng nên cô đành phải đến dùng nhờ máy tính của tôi. Tôi vội đứng dậy nhường chỗ của mình:

– Máy này hình như cũng đang bị lỗi ở phần hiển thị, nó xuất hiện một mảng đen đấy.

Chả là vừa rồi tôi click phím khởi động máy, máy bây giờ ở tình trạng scandisk. Cô ngồi xuống đưa mắt nhìn hiển thị, vẻ chăm chú:

– Đâu nào. Mảng đen đâu?

Không có ư? Liệu còn điều gì có thể làm tôi ngạc nhiên hơn nữa không? Tôi như người bị choáng, chân bước lảo đảo tiến đến bên Lý Đĩnh, căng mắt nhìn. Trên nền màn hình bây giờ hiện rõ mồm một bức tranh trời xanh mây trắng sạch sẽ, không một tì vết nào.

Trời, mình hoa mắt chăng? Tôi lại đưa tay lên dụi mắt nhưng vẫn không thấy gì hết.

– Anh làm sao mà trông gà hóa cuốc thế! thú thật đi nào, chỉ được cái giỏi vụng trộm xem ảnh gái đẹp phải không?

Nói rồi cô phá lên cười và thuận tay đưa đĩa mềm của mình vào ổ A.

– Chỉ tại sếp “boongke” quá mà thôi. Máy móc, thiết bị cũ kỹ và rệu rã, mọi thứ long như răng ông lão hết cả, cũng chẵng biết họ mua lại đồ cũ của công ty Net nào nữa?

Bài vở của tạp chí mà tôi phụ trách, hầu hết đều là những chuyện ly kỳ, rùng rợn. Phần việc dành cho Lý Đĩnh là chuyên mục truyền kỳ, vốn không thiếu gì những điều ma quái kỳ quặc khó tin. Xem ra cô cũng từng trải già dặn hơn trước nhiều. Như bài viết đăng trên số tạp chí kỳ vừa rồi có nội dung: Tòa tháp Hòn ngọc Phương Đông ở Thượng Hải thực ra là căn cứ địa của người ngoài hành tinh. Người ta tìm thấy ở đó những cỗ máy kỳ dị và nghe đâu, ông kỹ sư trưởng ở đấy đã được đĩa bay rước đi đâu mất rồi. Thế nên với ai thì chưa biết chứ để Lý Đĩnh nhìn thấy vết mực trên màn hình thì chắc gì cô đã cho đó là chuyện lạ.

Tôi cũng cười và đổi giọng chợt nhả :– Xem ảnh mà làm gì chứ, cứ nhìn cô đây chẳng hơn sao! Ảnh có đẹp mấy đi nữa cũng chẳng bì kịp với cô.

Chuyện thường tình thôi, đã là con gái, thì ai chả thích người khác khen mình đẹp, vả chăng cô cũng đẹp thật. Lý Đĩnh đang mãi giở tập bản bông, mười đầu ngón tay như bay nhảy trên giấy, cô đặt bút sửa hết chỗ này đến chỗ khác. Tôi đứng một bên cảm thấy ngượng nghịu:

– Cô Đĩnh, hay là tôi đi lấy cho cô cốc nước nhé?

– Anh gọi tên tôi thân mật như thế, không sợ bạn trai tôi ghen à? – Cô bụm miệng cười.

Tôi đang giơ tay rút ra một cái cốc giấy dùng một lần, nghe thế không khỏi bị chạnh lòng nhưng chỉ cười:

– Có thế mà đã ghen thì đem anh ta ngâm vào chum dấm cho xong chuyện? cô uống trà được chứ?

– Cám ơn anh, nước trắng cũng được.

Tôi bước đến bên phích nước đun sôi tự động, mở chốt vòi, mắt nhìn dòng nước tuôn chảy mà tủi lòng.

Mình là cái thá gì chứ? Tuổi hai mười qua lâu rồi, bây giờ tuổi ba mươi đang sầm sập đuổi tới sau lưng. Tiếng là tốt nghiệp đại học ra nhưng làm ăn long đong lận đận; đổi hết việc này đến việc khác, nay đây mai đó vẫn chỉ hòai công. Tiền của túng bấn, tướng mạo cũng thua kém chẳng bằng ai. Những muốn làm một viên đá lót đường song chỉ có thể là viên đá trơn nhẵn không có hoa văn, đến nỗi thân con trai mà chẳng có lấy một người bạn gái nào.

Tôi đưa mắt lên nhìn Lý Đĩnh. Cô ngồi đó, cắm cúi đánh máy chữ. Cô để tóc chấm vai, đuôi tóc được kẹp bằng chiếc cặp màu xanh hình con bướm và chiếc áo len màu đỏ ôm sát mình , tôn lên đường nét uyển chuyển của thân người.

Giá như mình được làm bạn với cô thì may mắn biết mấy, tiếc rằng chuyện đó không bao giờ là thật. Nghe đâu bạn trai của cô là một viên chức cao cấp trong một doanh nghiệp nước ngòai, tiền lương mỗi năm lê tới hai ba chục vạn. Cơm bữa có cá tươi, đi đâu có xe đưa xe đón. Chỉ những chàng trai cỡ ấy mới xứng đội với cô mà thôi. Chứ như tôi… có mà…

– Anh tặc lưỡi kiểu gì lạ thế?

Cô dừng tay đánh máy, đưa hai tay lên đầu sửa sang mái tóc, kẹp lại cái cặp và liếc nhìn tôi.

– Xong hết rồi… Nước vừa mới rót vào cốc- Tôi vừa nói vừa cười.

Có lẽ vì quá bối rối nên tôi rót nước tràn qua cả miệng cốc, nước bỏng giẫy ngấm đẫm cốc làm bằng giấy bìa mềm oặt, khó lòng cầm lên được. Tôi luống cuống tay chân, đang toan đổ bớt nước trong cốc đi thì bỗng nghe một tiếng “ối” từ phía Lý Đĩnh.

Tiếng kêu hốt hoảng của cô khiến tôi thảng thốt bỏ luôn cốc nước ở đấy, vội vàng chạy tới.

– Việc gì thế? lại có chuyện gì phải không?

– Bàn phím của anh có chiếc đinh ghim!

– Đinh ghim làm sao? Tôi giật mình thêm một lần nữa, tim như thót lại. Không biết vì sao hôm nay có nhiều chuyện lạ như thế ?

– Đinh ghim ư? Nó đâu nào?

Đinh ghim rơi tọt vào trong bàn phím, nó có thễ gây nên đoản mạch, đốt cháy bàn phím. tôi đưa tay cầm lấy bàn phím và lật sấp, vỗ mạnh lên thân nó nhưng chỉ dốc ra được chút ít cát bụi bên trong mà không thấy có đinh ghim.

– Lạ chưa? Ngay mới rồi tay tôi vừa chạm vào bàn phím thì ngón giữa nhói lên đau buốt cơ mà?

vừa nói cô vừa chìa ngón giữa tay phải ra xem, tôi thấy buồn cười quá:

– Hãy khoan, để tôi chụp cho cô tấm ảnh này!

Bàn tay phải của cô, chỉ trừ mỗi ngón giữa, cón bốn ngón kia đều cụp vào lòng bàn tay, đưa ra một dấu hiệu không được đẹp mắt và nó là của người Mỹ dùng trong trường hợp chửi đổng. Lý Đĩnh cũng bất chợt nhận ra điều đó và nắm chặt bàn tay lại:

– Thôi, tôi chẳng thèm nói gì với anh nữa. anh làm sao ấy!

– Thôi được rồi. Cùng bỏ qua nhé! – Tôi cố nhịn cười – Xem nào, có vết kim châm hay không?

Cô lại chìa tay ra, lần này thì cô xòe cả bàn tay năm ngón, mắt nhìn chăm chú rồi lắc đầu:

– Quái lạ thật, cả vết kim châm cũng biến đâu mất.

Năm ngón tay của cô trông thon dài, trắng muốt như ruột cây hành đã bóc vỏ, rất đẹp. Tôi sáp lại gần:

– Đúng thế, không nhìn thấy được. Cô chờ đấy để tôi đi lấy kính lúp.

Trong ngăn bàn của tôi luôn có sẵn kính lúp. Có nó, tôi cầm lấy bàn tay cô đưa lên xem:

– Chà…không thấy vết thương, chẵng lẽ đó cũng là cảm giác nhầm lẫn?

Cô rút ngón tay ra khỏi lòng bàn tay tôi, mặt đỏ lên:

– Thôi nhé. bây giồ cũng hết đau rồi. Cứ để mặc tôi làm cho xong công việc.

Nghe giọng nói, tôi biết cô cũng đã lấy lại được khẩu khí lạnh lùng vốn có của mình nên tôi làm bộ tươi cười cất kính lúp vào chỗ của nó rồi nói:

– Đầu ngón tay là nơi tập trung nhiều đầu dây thần kinh, lắm khi chỉ một vết xước nhỏ trên bàn phím cũng có thể làm cho bàn tay đau buốt, phát sốt lên được đấy.

Thật vậy, nói đến đầu dây thần kinh ở đầu ngón tay, bạn có thể tự kiểm nghiệm bằng cách lấy hai đầu mũi kéo đâm nhẹ lên mu bàn tay và chỉ bằng xúc giác không thôi, bạn sẽ không thể nào có cảm nhận rõ ràng xem đó là một hay là hai mũi kéo. Nhưng nếu bạn chọc mũi kéo vào đầu ngón tay thì cảm giác bạn nhận được sẽ không sai vào đâu được. Cũng như với bàn tay của Lý Đĩnh nếu nó được cô chăm chút tỉ mĩ như thế, chắc hẳn nó nhạy cảm hơn hẳn bàn tay tôi rồi. Nhưng tôi vẫn chưa hết phân vân: Phải chăng đấy đúng là vết xước trên bề mặt bàn phím?

Không hiểu sao đầu óc tôi cứ mãi trăn trở không thể dứt ra khỏi ý nghĩ về cái vết xước ấy.

Lý Đĩnh làm thẳng một mạch trên máy tính của tôi tất cả các việc như: sắo đặt lại câu chuyện bát nháo của cô, sửa hết những câu văn nghe chừng còn trúc trắc, “load” hết vào đĩa mềm rồi mới đứng lên:

– May quá, xong cả rồi!

– Lần này cô biên tập những nội dung quái quỉ gì vậy?

– Bí mật đấy? – Cô nhếch mép cười.

Nụ cười của cô mới đẹp đẽ và đáng yêu làm sao, tôi đâm ra mủi lòng xen lẫn sự ganh tỵ:

– Ủa, cô mới nhổ răng đấy ư, cô Lý Đĩnh?

Chả là ban nãy, lúc cô cười, tình cờ tôi thấy hình như cô mất một chiếc răng hàm bên má trái.

– Đâu có. – Cô nói vẻ ngạc nhiên.

Tôi giơ tay chỉ vào một bên má trái:

– Có đấy, tôi nhác thấy ở chỗ này cô bị hụt mất một chiếc răng.

– Đúng thế không? Răng sâu chứ gì? Cô giật mình và thò tay vào trong ví đầm để bên mình, lấy ra chiếc gương soi nhỏ, há to miệng, ghé mặt gần vào để soi. Tuy vậy, muốn nhìn cho rõ chiếc răng hàm ở sâu trong miệng đâu phải chuyện dễ. Lý Đĩnh càng há to miệng, tôi lại thấy cô càng đẹp hơn lúc thường.

– A ha…- Tôi tức cười không sao nhịn được nữa. Tiếng cười của tôi làm cô phát cáu:

– Đồ tồi, định lừa tôi hay sao? Tôi đã tưởng anh là người ngay thật, ai ngờ …

– Tồi ở chỗ nào?… Tôi nhịn cười – Đàn ông hiền lành thì phụ nữ không yêu. Tôi nói thật tình, cô nghe nhé, cô Đĩnh. Giả sử cô tẩy chay anh bạn trai thì cứ đến với tôi là hơn đó.

– Phì… – Cô làm bộ nhổ toẹt – Đến với anh sao, rõ là đồ mỏ quạ. Mặc xác anh!

Cô xô chiếc ghế tựa sang bên rồi vùng vằn bỏ đi. Tôi gọi với theo:

– Cô Đĩnh… cô còn quên chưa uống nước.

Nhưng lần này thì cô tỉnh bơ. Ta khỏi cửa rồi cô còn kịp kéo sập cánh của lại.

Chờ cô đi khỏi tôi mới ngồi xuống. Hơi ấm của cô vẫn còn vương trên ghế, bên bàn máy tính, xen lẫn mùi thơm của hoa linh lan – thứ nước hoa cô thường dùng. Ngồi trước máy tính, lòng tôi bâng khuâng khó tả, cảm giác ấy đưa tôi trở về với một thời dĩ vãng.

Ngày ấy đã xa rồi… Trong lối ngõ heo hút…mưa rơi mịt mù. Tay giương chiếc dù lợp giấy dầu to quá khổ so với thân hình, tôi mãi miết đi. Lúc ấy đang tầm giữa trưa mà dọc đường vắng tanh, không một bóng người. Ngõ hẻm chạy dài tít tắp ở giữa, vách tường cao chất ngất hai bên đường cứ như muốn khép lại, áp sát người đi trên đường. Vào thời ấy, tường đất đều xây bằng đất, lớp vôi trát ngòai nhiều chỗ tróc lỡ, để lộ thân gạch xám xanh. Nền đất lát đá tảng loang lỗ những vũng đọng nước mưa chảy thành dòng, cuốn theo những tàu lá rụng từ sân vườn hai bên ngõ chảy xuôi.

Thời thơ ấu của tôi đó…

Nhưng tôi không còn nhớ gì hết ngòai cảnh tượng trên đây, nó luôn tái hiện trước mắt tôi. Một lối ngõ chạy dài tít tắp, không biết đâu là cùng. Từ đầu này đến đầu kia không một bóng người. Chân bước dưới cây dù che, tôi bỗng thấy mình cô đơn khôn xiết.

Vâng… cô đơn như bây giờ.

Trong không khí có mùi hôi thối của da thuộc. Tôi giống như một con chuột bị sập bẫy, ngồi thu lu trong chiếc ghế tựa nhỏ, chợ cảm thấy rét thấu xương.

Cô ấy đi rồi, máy tính của tôi lại không bị hỏng hóc nên tôi có thể làm thêm ca, đem bản bông tiểu thuyết của Ôn Kiến Quốc ra để sửa các lỗi chính tả. Khác với những cuốn sách trước, tập tiểu thuyết này của anh ta viết rất quái đản, phần cuối viết rất lộn xộn, không theo một trật tự nào cả. Như người ta nói, sau này, gần như anh ta bị tẩu hỏa nhập ma, may mà thóat nạn không mắc tội tuyên truyền cho phong kiến và mê tín. Dẫu sao đi nữa thì anh ta vẫn là một cây bút từng trải, biết tránh xa những vấn đề được cho là kị húy khi làm tạp chí.

Đối chiếu được một lượt thì trời vừa tối. câu chuyện làm tôi phát rét lên được và nghe khó chịu trong người, chốc chốc lại rộ lên từng cơn một. Rồi tôi tắt vi tính, chuẩn bị nghỉ ca.

Xong xuôi mọi việc, mấy hôm trước ngày phát hành tạp chí sẽ là thời gian thảnh thơi. Tối nay, tôi hí hửng ra ngòai định bụng tự đãi mình một bữa ra trò. Bước khỏi cửa vẫn thấy phòng bên cạnh còn sáng đèn. “Cô ấy còn ở đây sao?” – Tôi bước đến gần đưa tay gõ cửa.

– Cô Đĩnh, cô vẫn chưa về à?

Đây chỉ là cái cớ cho tôi tiếp cận mà thôi và thực như thế, tôi đã nghe giọng nói của cô lạnh nhạt:

– À, tôi còn dở tí việc.

Đàn bà là thế, họ chỉ vồn vã khi cần nhờ vã điều gì đó thôi. Còn tôi, những muốn nhân dịp này được gần gũi hơn, biết đâu có thể tạo tình thân giữa hai bên mà không được. Tôi đành lẳng lặng xuống gác một mình.

Thang máy đang dừng ở tầng trệt. Tôi bấm nút điện, đứng chờ. Vừa bước vào, tôi giật mình hoảng sợ.

(Hết chương một)

CHƯƠNG 11: ÁC MỘNG VẪN TIẾP DIỄN

Đạo sĩ Trương bày cách cho anh cả. Ông ta bảo anh cả cho lập một bia đá trước Ngôi mộ đá kia, trên bia đá có viết “Trấn Quỷ Thạch”, trước khi chôn bia đá phải đặt xuống dưới vài nghìn miếng hoàng phù rồi đích thân khắc những kí tự kì dị lên bia đá. Ông ta nói làm như vậy có thể nhốt các oan hồn ở lại trong này, chỉ cần anh cả không động đến Ngôi mộ đá thì các oan hồn đó cũng sẽ không đến quấy nhiễu anh nữa.

Để chứng minh bùa phép của mình là linh nghiệm, đạo sĩ Trương đã ở lại mỏ của anh cả một tuần liền. Kể ra cũng lạ, kể từ sau khi chôn bia đá, nửa đêm không còn nghe thấy tiếng khóc của ma quỷ nữa.

Một tuần sau, ông đạo sĩ đó cầm vài chục vạn tệ tiền thù lao của anh cả rồi ra đi. Trước khi đi ông đạo sĩ Trương còn đặc biệt dặn dò anh cả, nếu như có thể hãy cố gắng chuyển mỏ vàng đi, nếu làm được như vậy là anh cả có thể thoát khỏi hoàn toàn lũ ma quỷ nơi đây.

 

Sau đó, rất nhiều công nhân cũng đưa ra đề nghị được nghỉ làm. Anh cả biết rằng mỏ vàng của mình không thể duy trì được nữa liền thanh toán tiền lương cho họ, còn tặng cho họ vài nghìn tệ làm lộ phí về nhà, chỉ giữ lại vài chục người thân tín và bạo gan ở lại giúp mình lo liệu chuyện hầm mỏ.

Mỏ vàng của anh cả phải đóng cửa rồi, cái tin này nhanh chóng lan truyền ra khắp thôn Kim Gia. Có mấy ông chủ mỏ vàng ở trong thôn đã lần lượt đến hỏi về các thiết bị của anh cả nhưng chẳng ai muốn mua quyền khai thác vàng ở mỏ của anh, bởi vì mặc dù mọi người không nói ra nhưng ai ai cũng biết chuyện mỏ vàng của anh có ma, đương nhiên cũng biết rõ trong Ngôi mộ đá đó có hàng nghìn oan hồn. Mặc dù bọn họ cũng biết trữ lượng vàng trong đó rất cao nhưng dù sao tính mạng của mình vẫn quan trọng hơn hết. Thế nên bọn họ chỉ muốn kiếm lời bằng việc mua những thiết bị khai thác của anh với giá rẻ chứ không ai dám mua quyền khai thác hầm mỏ của anh.

Anh cả chẳng có bụng dạ nào mà mặc cả với họ, chỉ cần có người mua thì giá nào anh cũng bán. Các thiết bị khai thác anh cả mất mấy chục triệu nhân dân tệ để mua về sử dụng bao năm nay chẳng mấy chốc đã được anh bán sạch với giá vài trăm vạn.

Sau khi xử lí hết các thiết bị ở trên hầm mỏ, anh cả cho giải tán những người công nhân còn lại, tự mình đi thanh lí nốt các khoản nợ của các đơn vị, mãi cho đến giờ vẫn chưa thấy quay lại.

Mẹ nhăn nhó kể lại cho tôi nghe chuyện xảy ra ở hầm mỏ của anh: -Mỏ vàng là tính mạng của anh cả con, đến giờ không thể khai thác được chắc là trong lòng nó bức bối lắm. Không biết sau khi về nó sẽ đối đãi với chị dâu con ra sao nữa!

Có thể thấy là mẹ đang lo lắng cho Lan Lan. Thực ra trong lòng tôi còn lo lắng gấp bội. Lúc anh còn khai thác mỏ vàng, dù sao cũng chỉ đến đêm mới về nhà giày vò Lan Lan, giờ mỏ vàng đóng cửa, liệu ban ngày anh có còn ra khỏi cửa nữa không? Nếu như anh cả còn đối xử với Lan Lan như trước đây, những ngày tháng sau này của cô ấy sẽ càng khó sống. Lan Lan yếu đuối sẽ sống ra sao đây?

Nhớ lại những điều mà bác sĩ Thường nói với tôi lúc Lan Lan còn ở bệnh viện huyện, trong lòng tôi lại nhen nhóm lên một tia hi vọng. Lúc Lan Lan nhập viện, bác sĩ Thường đã từng nói với tôi ông ấy sẽ nghĩ cách để khiến cho anh cả không làm tổn thương đến Lan Lan nữa, thế nhưng ở hầm mỏ xảy ra chuyện lớn như thế này, ngay cả thời gian đến bệnh viện thăm Lan Lan anh còn chẳng có, bác sĩ Thường cũng bận rộn như vậy, hai người muốn gặp nhau cũng khó chứ đừng nói đến chuyện khuyên giải. Nghĩ đến đây tôi lại thấy ớn lạnh.

Đang cúi đầu trầm ngâm thì mẹ đột nhiên lên tiếng: -An Nhi, trong thời gian con không có nhà, sở công an có phái người đến nhà chúng ta đấy!

-Công an đến nhà chúng ta làm gì ạ?- tôi ngạc nhiên hỏi mẹ.

-Người ta nói có người trình báo rằng anh cả con mua phụ nữ, thế nên đến nhà ta để điều tra.

Nghe mẹ nói vậy tôi chợt chột dạ, liệu đây có phải là “phương pháp” của bác sĩ Thường hay không? Ông ấy nhất quyết không chịu nói cho tôi biết ông đã dùng cách gì để giải quyết mà chỉ bảo tôi chăm sóc chu đáo cho Lan Lan. Hóa ra ông ấy lại đi báo công an đến nhà tôi gây chuyện!

-Mẹ, bọn họ đến nhà mình đã nói những gì?

-Bọn họ chỉ hỏi qua về tình hình Lan Lan nhà chúng ta, nói với bố mẹ là mua bán phụ nữ là phạm pháp. Sau đó chẳng nói gì nữa. Trước khi đi bọn họ nói là sẽ đi tìm anh cả nói chuyện, sau đó không thấy tìm đến nữa. Thế nhưng chuyện đó cũng khiến cho bố con sợ chết khiếp, mẹ cũng đang lo lắng lắm đây!

Tôi đột nhiên hơi hiểu ra vấn đề, trong thôn đâu chỉ có một mình anh cả tôi bỏ tiền mua phụ nữ, công an không đến các nhà khác mà lại tìm đến nhà tôi, rất có thể bác sĩ Thường muốn dựa vào công an để bảo vệ Lan Lan. Bởi vì chuyện thanh niên vùng núi chúng tôi không thể lấy nổi vợ nên chuyện mua phụ nữ về làm vợ rất phổ biến, mọi người ai nấy đều đã quen với việc này nên chẳng ai đi tố giác ai. Mà không có người tố giác thì đương nhiên chẳng công an nào động đến làm gì, như thế đôi bên đều được yên ổn. Hơn nữa tình hình trị an ở nơi đây rất tồi, sở công an mỗi ngày phải xử lí hàng trăm vụ cướp bóc, chém giết, phóng hỏa đốt nhà….thế nên bọn họ đâu có thời gian mà để ý đến mấy vụ mua phụ nữ về làm vợ.

Người của sở công an chỉ nói với bố mẹ tôi rằng chuyện anh cả mua phụ nữ là phạm pháp, bảo bố mẹ chuyển lời với anh cả nhất định phải đối đãi tốt với người ta. Nhưng họ chẳng có bất cứ biện pháp gì. Điều đó chứng tỏ bác sĩ Thường chỉ bảo họ đến hù dọa bố mẹ với anh cả tôi. Ông ấy làm như vậy rất có thể chỉ là để cảnh cáo anh cả tôi: vốn dĩ việc anh mua người ta về làm vợ đã là sai trái rồi, nếu như con ngược đãi người ta thì e là sẽ bị “sờ gáy” đấy!

Dù gì anh cả cũng là người nổi tiếng ở trong làng, đã có đóng góp không nhỏ cho nền kinh tế của địa phương, hơn nữa lại có mối quan hệ xã hội rất rộng, đừng nói là đồn công an của huyện mà ngay cả cục công an cũng đều có bạn bè của anh. Có lẽ đồn sở công an của huyện nhận được tin báo của bác sĩ Thường nên đã cố tình đến nhà tôi để “rung cây nhát khỉ” chứ không phải đến để “gô cổ” anh tôi đi.

Nếu đúng như tôi suy đoán, người của sở công an đã tìm anh cả tôi nói chuyện rồi. Anh cả dù có bận rộn đến đâu, chỉ cần là người của sở công an gọi đến thì kiểu gì cũng sẽ đi gặp họ.

Tôi càng nghĩ càng thấy có lí, trong lòng thầm khen ngợi bác sĩ Thường quả là cao minh. Ông ấy làm vậy không những vừa giữ thể diện cho anh cả tôi lại có thể bảo vệ được Lan Lan. Nếu như anh cả vì chuyện này mà thay đổi thái độ với Lan Lan thì tốt biết mấy.

Đáng nhẽ ra nếu như anh cả không còn ngược đãi Lan Lan như trước nữa thì tôi phải vui mừng mới phải, thế nhưng không biết vì sao mà nghĩ đến đây tôi lại thấy chua xót trong lòng. Lan Lan không thích anh cả nhưng nếu như sau này anh cả đối xử tốt với cô ấy liệu cô ấy có thay đổi cách nhìn với anh không nhỉ?

Nếu như Lan Lan có thể an tâm sống qua ngày với anh cả là một chuyện đáng mừng, nhưng không hiểu sao trong lòng tôi lại cảm thấy vô cùng mâu thuẫn, một cảm giác khó chịu không thể nói được thành lời. Chính miệng Lan Lan đã nói rằng cô ấy yêu tôi, sở dĩ cô ấy ở lại đây là bởi vì tôi, nếu là như vậy chẳng phải cô ấy với anh cả đồng sàng dị mộng hay sao? Lan Lan là chị dâu của tôi, thế mà tôi lại yêu cô ấy sâu sắc. Bị kẹt giữa cô ấy với anh cả tôi khó xử biết bao. Giả sử đến lúc phải chọn một trong hai, tôi biết phải làm thế nào đây?

Một buổi chiều, năm ngày sau khi Lan Lan với tôi trở về nhà, cả nhà chúng tôi đang ngồi quây quần ăn cơm tối thì anh cả trở về. Trông anh có vẻ rất mệt mỏi, người cũng gầy rộc đi.

Vẻ mặt anh cả rất sầm sì, về đến nhà chẳng buồn chào hỏi ai mà đi thẳng về phòng.
Mấy ngày không có anh cả ở nhà, Lan Lan đều ngồi ăn cơm với bố mẹ và tôi. Mặc dù trước mặt bố mẹ tôi cô ấy vẫn chẳng nói chuyện gì như trước đây nhưng có thể nhân thấy rằng Lan Lan ăn cơm rất ngon miệng, còn liên tục gắp thức ăn cho tôi nữa. Mẹ nhìn thấy vậy thì vui lắm.

Ban ngày rảnh rỗi không có việc gì làm, Lan Lan thường gọi tôi dẫn cô ấy ra ngoài đi dạo. Lúc xung quanh chẳng có ai cô thường nép sát vào người tôi giống như một chú chim nhỏ, bẽn lẽn như một thiếu nữ mới yêu lần đầu, ríu rít nói những lời ngọt ngào khiến cho trái tim tôi đập thình thịch. Thỉnh thoảng cô ấy cũng dò hỏi về chuyện hầm mỏ của anh cả, tôi liền kể hết tình hình mà tôi biết được cho Lan Lan nghe.

Đến tối, Lan Lan thường lén lút gọi tôi qua phòng anh cả, cô ấy nói rất sợ ở một mình. Mặc dù tôi rất muốn đến nhưng vẫn phải khéo léo từ chối.

Giờ anh cả đã về rồi, Lan Lan không cần phải một mình ở trong căn phòng lớn nữa, liệu nửa đêm cô ấy có còn sợ hãi nữa hay không? Còn tôi hiện giờ đang vô cùng sợ hãi, giống hệt như Lan Lan sợ bóng đêm trước đây vậy.

Mùa đông đã đến, bởi vì thời tiết lạnh giá nên những người sống trên núi thường đi ngủ rất sớm. Mùa đông lạnh lẽo dài đằng đẵng, có lẽ phần lớn thanh niên đã kết hôn đều chui trong chăm ấm và “hú hí” với nhau. Anh cả và Lan Lan đã ngủ rồi chăng? Hay là họ đang….

Tôi không dám nghĩ tiếp nữa, nhưng lại không nén nổi tò mò vén tấm màn cửa sổ lên lén lút nhìn về gian nhà phía tây. Căn phòng của anh cả vẫn sáng đèn thế nhưng rèm cửa đã kéo kín mít. Chẳng hiểu ma xui quỷ khiến thế nào mà tôi lại lặng lẽ xuống giường, nhón chân khe khẽ đi ra khỏi phòng, lén lút y hệt một tên trộm. Ngoảnh đầu sang thấy trên nhà lớn đã tắt đèn tối om, tôi đoán chắc bố mẹ đã đi ngủ rồi. Lúc đi ngang qua gian nhà phía tây, tôi cố ý đi thật chậm và lắng tai nghe ngóng, nhưng chỉ nghe thấy tiếng tim mình đập thình thịch còn trong phòng của anh cả lại chẳng có động tĩnh gì.

Sợ bị phát hiện nên tôi đứng ở cửa nhà vệ sinh một lát rồi vội vàng chuồn về phòng của mình, nhẹ nhàng như một con chuột. Chui vào trong chăn ấm, cơn buồn ngủ nhẹ nhàng tìm đến, trong đầu tôi hiện ra khuôn mặt rạng rỡ và nụ cười ngọt ngào của Lan Lan.

Nhớ đến khoảng thời gian hai tháng Lan Lan nhập viện, trái tim tôi lại cảm thấy ấm áp. Chúng tôi ở gần nhau đến như vậy, ngày ngày chung sống dưới một mái nhà, mặc dù là quan hệ chị dâu em chồng nhưng lúc ở trong bệnh viện, rất nhiều người không biết chuyện đều nghĩ chúng tôi là một đôi vợ chồng trẻ. Tôi rất thích ánh mắt ngưỡng mộ của mọi người nhìn tôi, thậm chí rất thích cái cảm giác bị người ta hiểu nhầm.

Tuy nhiên, giả không thể trở thành thật! Điều khiến tôi cảm thấy vô cùng tàn khốc đó là mặc dù tôi và Lan Lan đều dành tình cảm cho nhau nhưng chúng tôi không thể nào trở thành một cặp. Cô ấy căm ghét anh cả đến thế nhưng vẫn phải ở chung một phòng, ngủ chung trên một chiếc giường với anh.

Giờ thì tôi đã biết anh cả chẳng thể làm được chuyện đó, bởi vì anh không phải là một người đàn ông bình thường, nhưng rất có thể anh là một gã đàn ông biến thái.
Cho dù là ai thì chỉ cần là đàn ông, nằm bên cạnh một người phụ nữ xinh đẹp thuộc về mình thì không thể không có chút phản ứng gì, càng không thể không động lòng. Anh cả là một người đàn ông có đủ thất tình nhục dục nhưng lại bị đả kích về mặt tình cảm. Anh có thể vì cô gái mà mình yêu mà trở mặt với bố đẻ của mình, làm trái với di nguyện của ông nội. Đến giờ mặc dù anh đã có trong tay một khối tài sản kếch xù nhưng cái mà anh đã mất đi còn đáng quý hơn cả tiền tài. Bao nhiêu năm cô độc, dục vọng bị đè nén khiến cho anh cần có một người đàn bà hơn bất kì gã đàn ông nào khác, anh cần phải được giải tỏa!

Anh cả không đồng ý chuyện mai mối có lẽ chính là vì trong lòng anh có một bí mật không thể hé răng. Anh không muốn để cho những người quen biết mình biết được bí mật nhục nhã này. Sở dĩ anh bỏ tiền ra mua đàn bà có lẽ chỉ là để bảo vệ sự tôn nghiêm hư vô của một gã đàn ông.

Nói thực lòng, tôi rất đồng cảm với cảnh ngộ của anh cả, nếu như người phụ nữ mà anh mua về không phải là Lan Lan, hoặc nếu như tôi không đem lòng yêu chị dâu của mình thì có lẽ tất cả tình cảm tôi dành cho anh cả vẫn sẽ vẹn nguyên như trước đây, việc anh ấy làm tổn thương Lan Lan tôi sẽ coi như đó là một cách thức yêu thương của anh ấy. Thế nhưng hiện giờ hoàn cảnh đã thay đổi, sau khi đem lòng yêu thương Lan Lan, tôi đã có sự nhìn nhận khác với anh mình. Anh cả trong mắt tôi không còn là một người bình thường mà là một ác quỷ, một con ác quỷ có thể đẩy Lan Lan xuống địa ngục bất cứ lúc nào.

Tôi không thể không lo lắng cho Lan Lan, bởi vì tôi yêu cô ấy! Nhưng sự lo lắng của tôi là thừa thãi, bởi vì cô ấy là người phụ nữ của anh trai tôi. Đối mặt với anh cả, tôi cảm thấy mình vô dụng! Tôi chỉ có thể gửi gắm hi vọng vào sự thay đổi của anh cả, chỉ cần anh ấy đối xử tốt với Lan Lan, chỉ cần Lan Lan không bị giày vò, tôi chấp nhận đau thương để buông tay cô ấy!

Tôi đã có những dự định xấu nhất trong lòng, đợi đến khi cuộc sống của Lan Lan và anh cả ổn định lại, không khiến tôi lo lắng như trước đây nữa, tôi sẽ rời khỏi cái nhà này, bắt đầu lại cuộc sống của riêng mình.

Sau khi hạ quyết tâm, tôi thấy lòng mình chợt nhẹ nhõm hơn. Chẳng mấy chốc đã là nửa đêm, gian phòng phía tây vẫn rất yên tĩnh, tôi mệt mỏi nhắm mắt lại, chẳng bao lâu sau đã chìm vào giấc mộng.

Trong cơn mộng mị, tôi mơ thấy mình đang đứng trước cửa phòng của anh, nhìn thấy anh mình trần như nhộng đang cuống quýt cởi hết quần áo của Lan Lan. Lan Lan hoảng hốt lấy tay che ngực, ra sức lùi lại phía sau. Cô ấy nhìn tôi bằng ánh mắt van xin, tôi biết cô ấy đang cầu cứu tôi nhưng tôi chỉ biết giương mắt đứng đó.

Lan Lan đang rơi lệ, đôi mắt của cô chất chứa sự oán trách, cô ấy đang trách tôi vô dụng, chỉ biết giương mắt đứng nhìn người mình yêu bị kẻ khác làm nhục. Điệu bộ của Lan Lan khiến cho anh cả nổi điên, anh hùng hổ lao đến tóm chặt lấy cánh tay Lan Lan, hung dữ đánh cô tới tấp rồi chồm lên người cô như một con hổ đói……..

Quần áo của Lan Lan bị anh cả xé rách tơi tả, cô vùng dậy cố thoát khỏi bàn tay hung tợn của anh cả nhưng cái mà cô nhận được chỉ là những vết bầm tím trên khắp cơ thể.
-Á……- một tiếng thét thất thanh khiến tôi giật mình bừng tỉnh khỏi giấc mộng, tôi nghe thấy rõ ràng đó chính là tiếng thét của Lan Lan.

Tôi tưởng rằng tiếng thét của Lan Lan không phải là thật, nhưng lúc tỉnh táo lại tôi mới biết đó không phải là mơ, tiếng thét thảm thiết của Lan Lan đang vọng lại từ gian nhà phía tây. Tiếng kêu xé ruột xé gan giữa đêm đông tĩnh mịch đã xé nát trái tim tôi.
Tôi biết, cơn ác mộng của mình vừa kết thúc thì cơn ác mộng của Lan Lan chỉ vừa mới bắt đầu.

Mỗi lần nghe thấy tiếng gào thét thảm thiết của Lan Lan, trái tim tôi đau đớn như bị dao cắt phải. Tôi siết chặt nắm tay trong đêm đen nhưng không biết phải hướng nắm đấm ấy về phía ai? Cuối cùng, nấm đấm ấy chỉ có thể giáng mạnh lên bức tường cứng đơ. Máu từ bàn tay tuôn ra mà tôi hoàn toàn không hay biết.

Tôi nghĩ, anh cả chắc chắn phát điên rồi, điên tới mức mất hết cả lí trí. Mà điên với tàn nhẫn luôn đi liền với nhau, vì vậy anh cả hiện giờ đã tàn nhẫn đến mức mất hết cả tính người!

Tôi có thể hiểu cho hoàn cảnh của anh cả, cũng đồng cảm với cảnh ngộ của anh nhưng tôi không sao chấp nhận được việc hết lần này đến lần khác anh tàn nhẫn chà đạp Lan Lan như một con dã thú. Anh không nên đem nỗi đau khổ của mình để trút hết lên người khác.
Khi trời sáng, tiếng thét phát ra từ phòng anh cả cũng chấm dứt. Lúc ăn sáng, anh cả chẳng nói chẳng rằng ngồi phịch xuống bên bàn ăn. Bố tôi sức khỏe chưa hồi phục ăn, nhìn thấy anh cả liền trợn mắt buông bát đũa đi thẳng vào nhà trong.

Mẹ tôi thấy Lan Lan không lên nhà ăn cơm cũng chẳng dám hỏi nhiều, liền bê cơm nước vào phòng cho Lan Lan. Trên bàn ăn chỉ còn lại tôi với anh cả. Anh cả chỉ mải cắm đầu ăn cơm, chẳng buồn liếc tôi lấy một cái. Tôi vốn định hỏi han anh vài câu nhưng nhìn thái độ đó của anh, tôi biết anh vẫn còn tức giận tôi vì chuyện của Lan Lan, thế nên câu nói đã ra đến cửa miệng lại bị nuốt vào trong.

Mẹ tôi đưa cơm cho Lan Lan quay lại thì anh cả cũng ăn xong và đứng dậy ra ngoài. Tôi vừa ăn cơm và nhìn trộm anh, thấy anh không ra khỏi cửa mà đi thẳng về phòng của mình.
-Mẹ, Lan Lan… à không, chị dâu thế nào rồi? Có chịu ăn uống gì không?

-Đang ăn đấy!- mẹ nhìn tôi rồi đáp.

Tôi cúi đầu tiếp tục ăn cơm, trong lòng thấy yên tâm hơn đôi chút. Trước khi nhập viện Lan Lan thường bỏ ăn, mẹ đã tốn rất nhiều công sức dỗ dành cô ấy mới chịu ăn một ít.
Chỉ có điều tôi cũng thấy là lạ, cảm thấy hôm nay Lan Lan dường như có gì đó khác bình thường, đêm qua bị anh cả hành hạ như vậy mà giờ Lan Lan vẫn còn tâm trạng ăn cơm sao? Chẹp….kì lạ cũng mặc kệ, cho dù thế nào, Lan Lan chịu ăn cơm là tốt rồi!

-Nó nói vì con nên nó mới chịu ăn cơm đấy!- mẹ cố nói khe khẽ với tôi.

Nghe mẹ nói tôi lại thấy lòng buồn rười rượi, sống mũi cay cay. Tôi lập tức nhớ lại những gì mà Lan Lan đã nói với tôi: “Em vì anh nên mới sống tiếp!”
Ăn xong cơm, trở về phòng tôi vẫn miên man với những điều Lan Lan đã nói. Rõ ràng cô ấy biết về nhà sẽ bị anh cả giày vò thế nhưng lại không chịu chạy trốn. Cô ấy chấp nhận chịu nhục nhã, sống một cuộc sống người không ra người, ma không ra ma chỉ bởi vì tôi! Còn tôi, rõ ràng là biết cô ấy về nhà sẽ bị chà đạp lại không dám làm điều gì cho cô. Lan Lan vì tôi mà làm vậy thật không đáng!

Ban ngày, mặc dù anh cả ở nhà nhưng nhà tôi vẫn rất yên tĩnh. Chỉ đến nửa đêm, gian phòng của anh cả mới trở nên ồn ào. Cứ đêm đến là tôi lại sốt ruột như ngồi trên đống lửa, cứ nghe thấy tiếng la hét của Lan Lan là tim tôi lại đau như dao cắt. Hết ngày này qua ngày khác, tôi nhẫn nhịn nỗi đau, khó nhọc vượt qua những đêm dài thức trắng.
Suốt mười ngày liên tiếp tôi và Lan Lan không được gặp mặt lấy một lần. Lan Lan hoàn toàn không bước chân ra khỏi phòng anh cả, cũng không biết là cô ấy khong chịu ra hay anh cả không cho cô ấy ra. Chỉ có điều, cứ nửa đêm nghe thấy tiếng khóc thảm thiết của Lan Lan, tôi lại lo lắng không biết anh cả đang làm gì cô ấy, càng không biết Lan Lan có thể chịu đựng được bao lâu.

Lan Lan vì tôi mà ngày ngày phải chịu đựng sự giày vò tàn khốc của anh cả, thế nhưng tôi lại chẳng biết phải làm thế nào. Lan Lan vì tôi mà hi sinh nhiều như vậy, trong lòng tôi cảm thấy rất có lỗi với cô. Tôi không thể chấp nhận chuyện này cứ kéo dài mãi mãi, tôi không thể làm con rùa ngày ngày rụt đầu rụt cổ trốn trong cái mai của mình, để mặc cho người mình yêu thương phải chịu đựng nỗi cô độc và đau khổ.

Tôi quyết định âm thầm hành động, nhưng tôi có làm gì cũng không thể trực tiếp đối mặt với anh cả được, tôi không thể trở mặt với anh được. Nếu làm vậy thì người bị chỉ trích chính là tôi, mọi người sẽ nói rằng tôi cướp vợ của anh trai.

Sau hơn người ngày mày mò suy nghĩ, tôi đã tìm ra cách. Tôi nhớ ra những lời dặn dò của bác sĩ Thường trước lúc Lan Lan ra viện, ông ấy bảo tôi nếu gặp bất cứ khó khăn gì thì cứ đến tìm ông ấy. Tôi không đến bệnh viện tìm ông bởi vì như vậy rất dễ bị người khác phát hiện. Tôi chỉ len lén chạy ra ngoài gọi điện cho bác sĩ Thường, nói với ông ấy cảnh ngộ hiện giờ của Lan Lan, cầu xin ông ấy hãy nghĩ cách giúp đỡ Lan Lan, nếu không e rằng bệnh cũ của cô ấy sẽ lại tái phát.

Bác sĩ Thường nghe xong điện thoại im lặng hồi lâu không nói. Tôi phải giục mãi ông ấy mới chịu chậm rãi nói: -Để tôi nghĩ cách xem sao!- nói rồi cúp máy luôn.

Trở về nhà, tôi lại khó nhọc chịu đựng thêm ba ngày nữa. Trong ba ngày ấy, cứ nhìn thấy anh cả là tôi lại thấy chột dạ. Mặc dù anh ấy đối xử với Lan Lan như vậy, mặc dù anh giống như một con dã thú trong mắt tôi nhưng trước mặt anh tôi vẫn không dám ngẩng cao đầu, tôi luôn cảm thấy mình đang làm một việc có lỗi với anh.

Buổi sáng ngày thứ tư, có một chiếc xe cảnh sát đỗ xịch trước cửa nhà chúng tôi. Cảnh sát ở huyện đã dẫn anh tôi đi, tôi sợ tới mức không dám ra khỏi cửa, sợ hãi trốn trong phòng lén lút quan sát động tĩnh bên ngoài.

Lúc đó tôi trốn trong phòng nhìn thấy cảnh sát đứng ở giữa sân gọi to tên anh tôi, mẹ từ trong nhà hốt hoảng ra đón họ. Mẹ tôi mời mấy viên cảnh sát vào nhà uống trà nhưng họ từ chối. Sau đó anh tôi từ gian nhà phía tây đi ra nói chuyện với họ, tôi nghe thấy họ nói với anh cả rằng có chuyện muốn anh cả đi với họ một chuyến, ngoài ra thì chẳng nói gì thêm, bọn họ cũng không còng tay anh lại, vì vậy tôi cũng cảm thấy nhẹ nhõm hơn một chút. Tôi nghĩ bụng, có lẽ mấy viên cảnh sát này chỉ đến hù dọa anh cả tôi như lần trước để anh thôi không dám ngược đãi Lan Lan nữa mà thôi.

Anh cả bị dẫn đi rồi nhưng tôi chẳng thấy bố tôi đi ra từ nhà lớn, Lan Lan ở trong phòng anh cả cũng chẳng thấy lộ diện. Mẹ nhón chân chạy về phía phòng tôi, vừa vào cửa đã gọi: -Kim An ơi….anh trai con bị cảnh sát bắt đi rồi, bố con sức khỏe yếu không thể ra ngoài được, con mau mau đi theo xem sao!

Bởi vì trong lòng tôi hiểu rõ người của sở cảnh sát đến đây rất có thể là do bác sĩ Thường nhờ họ đến, cũng có thể là do tôi âm thầm gây ra, thế nên tôi không dám nhiều lời, đẩy xe đạp ra ngoài đi lên sở cảnh sát. Đi được một đoạn xa rồi vẫn nghe thấy tiếng mẹ nói với theo: -An Nhi ơi, nghe ngóng được chuyện của anh thì mau mau quay về, đường khó đi lắm, đừng có về muộn con nhé!

Những người tò mò đứng xem đầy hai bên đường, bọn họ túm năm tụm ba bàn tán, chỉ chỏ nọ kia. Tôi chẳng buồn đáp lời mẹ mà nhấn mạnh pê đan, đi như bay trên đường. Chiếc xe cảnh sát chẳng mấy chốc đã biến mất khỏi tầm mắt tôi.

Một tiếng đồng hồ sau, tôi cũng lê được tấm thân ướt đầm mồ hôi đến sở cảnh sát. Tôi xuống xe nhìn ngó xung quanh, trong lòng thấp thỏm bất an. Bỗng nhiên có một viên cảnh sát khoảng ngoài ba mươi tuổi đến gần hỏi: -Này cậu thanh niên kia, đứng ở đây nhìn ngó cái gì thế hả?

Tôi vội vàng đáp: -Chú cảnh sát ơi, cháu là em trai của anh Kim Quý ở thôn Kim Gia, anh cháu bị các chú bắt đến đây, cháu qua xem xem có chuyện gì không?

Viên cảnh sát đó nghe xong, vẻ mặt thoáng chút ngạc nhiên, chỉ tay vào phía trong nói: -Này cậu trai, xe cảnh sát của chúng tôi sáng nay đã ra ngoài làm nhiệm vụ rồi nhưng tôi không nghe thấy ai nói rằng đi bắt người cả. Cậu nhìn đi, xe của chúng tôi đã về đâu?

Nghe viên cảnh sát nọ nói vậy tôi chợt ngây người không hiểu ra làm sao. Rõ ràng một tiếng trước xe cảnh sát đã dẫn anh cả tôi đi, thế nhưng sao giờ xe vẫn chưa về? Hơn nữa tại sao những cảnh sát ở đâ’y lại không biết đồng nghiệp của mình đi bắt người chứ? Vậy thì họ bắt anh cả làm gì, dẫn anh đi đâu nhỉ?

Cái tin Mã Tam Nhi nửa đêm gặp ma chẳng mấy chốc đã truyền đi khắp khu hầm mỏ. Hơn một trăm công nhân ban ngày làm việc vất vả, đến tối vẫn tụ tập lại bán tán xôn xao. Có người nói Mã Tam Nhi vì nhát gan nên mới bị ảo giác, con ma đó chẳng qua chỉ là do trí tưởng tượng của anh ta tạo ra mà thôi. Có người lại nói anh ta mắc chứng mộng du, mà người mộng du ban đêm ra ngoài để làm gì cũng không biết. Đương nhiên cũng có người tin là Mã Tam Nhi đã gặp ma thật sự. Bọn họ còn lấy rất nhiều ví dụ người nhà mình gặp ma như thế nào để chứng minh cho mọi người thấy rằng trên đời thật sự có ma quỷ.

Xảy ra chuyện này, anh cả tôi chẳng còn tâm trí nào mà về nhà. Anh triệu tập một cuộc họp với các công nhân hầm mỏ, nói trái với suy nghĩ của mình là trên đời không có ma quỷ, còn đặc biệt đưa ra những bản báo cáo, kiểm tra của bác sĩ đã khám bệnh cho Mã Tam Nhi cho mọi người xem. Sau đó, anh đã cẩn thận dặn dò các vệ sĩ phải làm tốt nhiệm vụ canh gác, thậm chí còn tăng cường thêm nhân lực đi tuần tra khắp khu hầm mỏ. Anh không muốn chuyện này sẽ khiến cho các công nhân của mình trở nên hoảng loạn.

Lúc tôi gọi điện từ huyện về báo cho anh cả Lan Lan lâm bệnh nặng, anh cả đang bận rộn sắp xếp, tăng cường canh phòng ở khu hầm mỏ, anh nói mình bận thật sự không phải là nói dối. Đối với anh cả, mỏ vàng chính là hi vọng sống còn của anh, thậm chí nó còn quan trọng hơn cả mạng sống của anh! Hầm mỏ xảy ra chuyện đương nhiên anh chẳng còn tâm trí nào mà lo cho Lan Lan được.

Mấy ngày sau đó, tối nào anh cả cũng đích thân đi lòng vòng xung quanh kiểm tra nhưng chẳng hề xảy ra chuyện gì. Anh cả nghĩ rằng lâu dần chuyện Mã Tam Nhi gặp ma sẽ từ từ lắng xuống.

Một tuần trôi qua, mọi chuyện trên hầm mỏ rất bình yên, mọi người cũng bớt căng thẳng với chuyện ma quỷ. Anh cả sau nhiều ngày trầm ngâm suy nghĩ đã quyết định dừng việc khai thác ở xung quanh mỏ quặng để chuẩn bị bắt tay khai thác Ngôi mộ đá đằng sau khu nhà ở của công nhân. Anh định sau khi khai thác xong Ngôi mộ đá sẽ đóng cửa mỏ vàng của mình rồi chuyển sang làm kinh doanh.

Một ngày trước khi bắt tay vào khai thác Ngôi mộ đá, anh cả đã đặc biệt tổ chức một lễ động thổ rất long trọng. Chỉ có điều khác với mọi khi, lần động thổ này không mời các vị lãnh đạo đến cắt băng khánh thành, cũng chẳng mời khách mời đến tham dự, chỉ đặt mấy chục bàn đồ lễ trên một bãi đất trống rồi châm hương nghi ngút. Những nghi thức này chẳng còn lạ lẫm gì đối với những công nhân ở đây nhưng long trọng như lần này thì đây vẫn là lần đầu tiên họ được nhìn thấy.

Anh cả đứng trước đội ngũ nhân công, nhìn thấy bọn họ đang ghé tai nhau xì xào cái gì đó, anh liền ho hắng vài cái, ánh mắt sắc lạnh nhìn họ. Mọi người ai nấy đều cảm thấy lễ động thổ lần này vừa kì lạ vừa bí ẩn.

 

Anh cả dõng dạc tuyên bố trước mặt mọi người: -Để đảm bảo lần này sẽ khai thác thành công, hôm nay chúng ta làm lễ cầu xin trời cao bảo vệ cho các anh em chúng ta được bình an!

Anh yêu cầu tất cả các công nhân cùng quỳ xuống bái lễ Ngôi mộ cổ với anh. Sau khi dập đầu bốn cái, mấy người vệ sĩ liền ôm một dây pháo hàng vạn quả ra, châm lửa đốt. Tiếng pháo nổ ầm vang bầu trời, tiếng động vang dội vọng lại từ những quả núi xung quanh, khói hương nghi ngút bao trùm Ngôi mộ đá, cả khu hầm mỏ như bị bao trùm trong làn khói.
Trong tất cả những người có mặt ở hầm mỏ, chỉ có anh cả biết rõ chân tướng sự việc, cũng chỉ có một mình anh biết được nơi chuẩn bị khai thác vàng được gọi là Ngôi mộ đá, trong đó đã vùi thây của hàng nghìn oan hồn. Hôm nay anh làm lễ bái tế ở đây chẳng qua là vì những người đã khuất đó. Anh cả muốn thông qua nghi thức này để an ủi những vong hồ tội nghiệp và khẩn cầu họ hãy tha thứ cho sự bất kính của mình, đồng thời cầu xin ông trời hãy bảo vệ cho anh.

Nhưng cả trăm người công nhân kia không ai biết rõ sự thực. Trong mắt của họ, cái mỏ quặng mà mình sắp phải khai thác chính là một đống đá lớn. Bọn họ chỉ biết rằng trong đống đá ấy có chứa những hạt vàng óng ánh, làm sao họ biết được rằng trong cái đống đá ấy lại chính là một nghĩa địa đầy xương trắng?

Sau khi tiến hành nghi thức động thổ xong, anh cả liền sắp xếp cho công nhân một bữa ăn trưa và ăn tối thịnh soạn. Cả hai bữa ăn đều có rượu thịt ngon lành. Anh cả muốn để cho những người công nhân ăn uống no đủ, tinh thần sảng khoái để chuẩn bị sức lực cho công việc khai thác mỏ ngày hôm sau.

Khi màn đêm bao trùm, cả khu hầm mỏ đã náo nhiệt suốt cả ngày như chìm vào trong yên tĩnh. Những người công nhân tụ tập bàn tán chuyện ban ngày. Bản thân họ cũng cảm thấy hành động của ông chủ mình hôm nay có vẻ lạ kì.

Do có rất nhiều người đã uống rượu, không ít người tham lam đã uống tới say mèm, thế nên những gian phòng sau một hồi xôn xao đều lần lượt tắt đèn. Chưa đến chín giờ tối bọn họ đều đã chìm vào giấc mộng. Cả khu hầm mỏ chẳng mấy chốc đã bị gió đêm bao trùm.
Màn đêm trong núi rất lãnh léo. Dưới những vì sao nhấp nhánh trên bầu trời, anh cả dẫn theo hai công nhân trực đêm đi một vòng quanh hầm mỏ rồi quay trở lại văn phòng. Văn phòng của anh được đặt ở giữa, hai bên đều là phòng ở của công nhân. Từ trong văn phòng của anh có thể nhìn ra Ngôi mộ đá thông qua cánh cửa sổ phía sau. Ngôi mộ đá rất nhiều năm về trước chỉ là một cái hang động bị thuốc nổ đánh sập, trải qua gần trăm năm bị mưa dập gió vùi giờ đã trở thành một ngọn núi thấp được hình thành từ những tảng đá xếp chồng lên nhau. Từ những khe hở giữa những tảng đá trên Ngôi mộ đá đó, không biết từ khi nào đã mọc lên những nhành cỏ dại lơ thơ. Những người không biết rõ thực hư của câu chuyện này rất khó nhìn ra “bộ mặt thật” của nó, lại càng không thể nào biết được câu chuyện thảm khốc ở nơi đây năm nào.

Văn phòng của anh cả là một căn phòng khép kín, bên ngoài là một phòng làm việc, bên trong là phòng ngủ, có lẽ bởi vì có quá nhiều chuyện giấu kín ở trong lòng nên anh cả nằm mãi mà không sao ngủ được. Nửa đêm, anh cầm theo một ngọn đèn rồi dẫn người đi tuần sát một vòng. Xung quanh hầm mỏ mọi thứ vẫn bình thường, không hề có vấn đề gì xảy ra. Thấy thế anh liền quay về phòng mình.

Một người lúc bình tĩnh lại thường liên tưởng đến rất nhiều vấn đề. Nhớ đến những chuyện đã xảy ra, những vấn đề trong hiện tại và những vấn đề có thể xảy ra trong tương lai, anh cả chỉ lo lắng cho cái mỏ vàng của mình. Mỏ vàng chính là sinh mệnh của anh, chỉ khi nhìn thấy những hạt vàng lấp lánh được lấy ra từ những tảng đá anh mới cảm nhận được sự tồn tại của mình.Thứ cảm giác này hơn hai mươi năm nay chỉ như một giấc mơ. Thế nhưng vì người mà phụ nữ mà anh yêu thương, anh đã hạ quyết tâm sẽ thực hiện giấc mơ này cho bằng được. Anh cật lực khai thác hầm mỏ, khi anh thuận lợi đào được một thùng vàng đầu tiên, trong lòng cảm thấy tràn đầy hạnh phúc và hi vọng với tương lai hạnh phúc thì cũng là lúc anh hay tin Linh Nhi mà anh yêu thương đã chết và giấc mơ đó trong phút chốc đã trở thành nỗi uất ức và đau đớn tột cùng của anh.

Sau đó, vụ tai nạn ấy không chỉ phế đi một chân của anh mà còn cướp đi “báu vật đàn ông” của anh, biến anh thành một thằng đàn ông không hoàn chỉnh, không thể nào trở thành một người đàn ông chân chính!

Phần lớn những người đàn ông nếu gặp phải hoàn cảnh của anh sẽ khó mà có dũng khí để sống tiếp. Tuy nhiên, anh tôi không hề làm như vậy, anh không những cắn chặt răng, đè nén nỗi đau đớn xuống để sống tiếp mà còn sống rất kiên cường và đầy nghị lực. Việc anh biến mình trở thành một người đàn ông khai thác vàng thành công nhất trong thôn Kim Gia này chính là một minh chứng hùng hồn cho sự dũng cảm của anh. Cũng chính bởi vì vậy mà anh cả coi mỏ vàng chính là sinh mệnh của mình, chỉ có khi ở trên mỏ anh mới cảm thấy bản thân mình đang tồn tại thực sự, cũng chỉ có những hạt vàng lấp lánh mới có thể chứng minh được giá trị của anh trong mắt mọi người.

Nhiều năm mài dũa đã khiến cho anh hiểu ra được một chân lí, chỉ cần có khả năng thì tuyệt đối không từ bỏ bất kì cơ hội nào. Trước mắt, mỏ quặng mà anh đã kinh doanh hơn hai mươi năm nay đã cạn kiệt, chỉ còn lại ngọn núi mà bố mình gọi là Ngôi mộ đá là chưa khai thác. Anh biết rõ đây là một vùng đất cấm, nhưng anh không cam tâm dừng tay tại đây.

Càng nghĩ càng rắc rối, nhưng càng nghĩ anh càng kiên định với niềm tin của mình. Nghĩ đến chuyện ngày mai sẽ bắt tay vào việc khai quật thi thể của hàng nghìn oan hồn, anh cả lại cảm thấy máu trong người dồn hết lên đầu. Anh đã âm thầm có sự sắp đặt sẵn sàng đối với những linh hòn chết thảm đó. Anh định sau khi đào được xương cốt của họ lên sẽ bỏ tiền ra xây dựng cho họ một lăng mộ trên quy mô lớn, để cho thi thể của họ được lần nữa nhìn thấy ánh sáng mặt trời, để cho những oan hồn ấy được lên trời yên nghỉ. Anh nghĩ, bản thân mình làm như vậy sẽ được những người đã khuất cảm thông. Anh không cố ý kinh động đến họ mà là làm việc tốt cho họ. Nghĩ như vậy anh cả lại cảm thấy yên lòng hơn, nỗi đắn đo trong lòng cũng từ từ tan biến.

Đang thất thần nghĩ ngợi thì đột nhiên bên tai anh vang lên tiếng thét kinh hãi. Anh cả nghĩ rằng mình nghe nhầm nên xuống giường đi ra ngoài cửa sổ, mở cửa sổ ra và lắng tai nghe ngóng. Lần này thì anh nghe thấy rõ ràng hơn. Anh nghe thấy loáng thoáng có tiếng khóc than vọng lại trong đêm đen, tiếng khóc ấy chẳng phải của đàn ông cũng chẳng phải của đàn bà, nghe có vẻ rất chói tai.

Tiếng chuông cảnh giác trong anh lập tức réo vang, tim anh đập thình thịch liên hồi….bởi vì tiếng khóc ma quái ấy vọng lại từ Ngôi mộ đá phía sau dãy nhà.

Từ nhỏ anh cả đã chẳng phải là người nhát gan nhưng trong lúc này lại nghe thấy tiếng khóc gào phát ra từ Ngôi mộ đá khiến cho anh bất chợt sởn da gà.

Lúc này, ngoài cửa vang lên tiếng gõ cửa gấp gáp, mấy người tuần tra đêm nghe thấy tiếng khóc kì quái này liền chạy lại báo cáo với anh.

Anh cả một tay xách đèn một tay cầm con mã tấu chạy thẳng ra khỏi phòng.

-Ông…ông chủ Kim….Kim….đằng sau hình như có tiếng gào khóc, chúng tôi vừa nãy có qua xem thì chẳng thấy gì. Thế mà vừa về đến đây lại thấy có tiếng khóc….Âm thanh ấy…..có vẻ như không phải của con người!- một người tuần tra lắp bắp nói, trông có vẻ đã sợ mất hồn rồi.

Mặc dù trong lòng đã cảm thấy ớn lạnh nhưng anh cả vẫn cố không thể hiện ra ngoài. Anh biết thái độ của anh có thể gây ảnh hưởng đến tâm trạng của công nhân, do vậy anh cố điềm tĩnh nói: -Đừng nói bậy, không phải tiếng người khóc thì là cái gì chứ hả?

-Có….có phải…là ….. ma không nhỉ?- một người khác khẽ lắp bắp.

Anh cả vừa đóng cửa vừa an ủi họ: -Các cậu chớ có nghĩ bậy, đang yên đang lành ma quỷ ở đâu ra chứ? Đi, chúng ta cùng đi xem xem, biết đâu hôm nay có anh chàng nào uống say nên chạy ra ngoài làm loạn rồi!

Nghe anh cả nói vậy, mấy người trực đêm đã bớt sợ hãi. Mỗi người họ đều cầm một cây gậy trên tay, lấy hết dũng khí đi theo anh cả ra phía sau dãy nhà ở. Đúng lúc ấy, mấy người bảo vệ trực ban nghe thấy tiếng khóc lóc cũng chạy đến. Bọn họ cùng anh cả lần mò trong bóng đêm, đi về phía có tiếng khóc phát ra.

Tiếng khóc phát ra từ Ngôi mộ đá thế nhưng khi bọn họ đến gần đó thì tiếng khóc chợt ngưng bặt, Ngôi mộ đá trước mặt chìm vào màn đêm đen sì và sự tĩnh mịch chết chóc. Tiếng lá cây xào xạc trong gió đêm thỉnh thoảng truyền đến tai khiến cho ngay cả những người dũng cảm nhất cũng phải nổi gai ốc. Mấy anh chàng công nhân đi theo sau cũng sợ hãi đến mức run lẩy bẩy.

Đi vòng quanh Ngôi mộ đá một vòng, kiểm tra trên dưới, trong ngoài mà họ vẫn không phát hiện ra cái gì. Đang định quay về thì tiếng khóc đột nhiên lại vang lên, tiếng khóc chói tai văng vẳng lúc gần lúc xa, lúc thì nghe như ở bên trái, lúc lại thấy hình như ở bên phải. Anh cả dẫn toán người lúc đi lên, lúc đi xuống, lúc sang trái, lúc sang phải….đi đi lại lại một hồi lâu mà vẫn chẳng biết tiếng khóc lóc phát ra từ đâu….
-Ông…ông chủ Kim, ông thử nghe kĩ xem…tiếng khóc ấy hình như phát ra từ đống đá này đấy!- một người run rẩy nói với anh cả.

Anh cả tôi xua xua tay, mọi người lập tức nín thở, ai nấy ngậm chặt miệng không dám ừ hử. Anh cả áp tai vào đám đá nghe ngóng nhưng thật kì lạ, tiếng khóc ấy chợt im bặt.
-Ông chủ Kim….liệu ở đây có phải có ma không?- một giọng nói run run cất lên, lần này anh ta càng run rẩy khiếp hơn.

-Có cái đầu mày ấy! Còn nói năng bậy bạ nữa thì biến hết cho tao!- hơn hai mươi năm nay đây là lần đầu tiên anh cả nổi nóng với công nhân, lại còn văng tục nữa.

Không có ai dám lên tiếng nữa, bọn họ thậm chí còn không dám thở mạnh, chỉ rụt rè, khúm núm theo sau lưng anh cả. Anh cả ngồi xổm xuống đất nghe ngóng hồi lâu, tiếng khóc dường như lại đột nhiên biến mất.

-Không còn chuyện gì nữa, mọi người đến văn phòng của tôi đi!- anh cả đứng dậy nói.
Về đến văn phòng, anh cả phát cho mỗi người một bao thuốc Trung Hoa rồi nhìn họ chăm chú nói: -Các anh em, nếu như tôi không đoán sai thì tối nay có người cố ý làm loạn, cố ý bày trò ma quỷ để dọa nạt chúng ta. Mục đích của chúng chính là gây hoang mang trong lòng các anh em ta, khiến cho chúng ta không thể làm việc bình thường được. Vì vậy chuyện xảy ra đêm nay các anh em chớ nói ra ngoài, kể từ ngày mai chúng ta sẽ tăng cường người trực đêm, nhất định phải tóm cổ tên khốn kiếp giả dạng ma quỷ này! Giờ trời sắp sáng rồi, mọi người về đơn vị của mình hết đi!

Mọi người gật đầu đáp lời. Anh cả đóng chặt cửa lại rồi tắt đèn. Anh không về phòng ngủ mà lặng lẽ đi ra chỗ cửa sổ đằng sau để quan sát, đôi mắt chăm chú dán chặt vào màn đêm.
Trời sáng dần, anh cả đã đứng trước cửa sổ suốt hơn hai tiếng đồng hồ thế nhưng chẳng phát hiện được điều gì, tiếng khóc ma quái ấy cũng không thấy xuất hiện nữa.

Căng thẳng suốt cả đêm khiến cho anh cả mệt bã người, đầu óc mụ mị, thế nhưng anh vẫn không chịu nghỉ ngơi. Những người công nhân sau khi ăn sáng xong đã tụ tập trước cửa văn phòng của anh cả, sẵn sàng chờ đợi anh cả phát lệnh là lập tức bắt tay vào làm việc.
Anh cả tôi chẳng buồn ăn sáng mà nhốt mình trong phòng làm việc rất lâu, suy đi tính lại rồi cuối cùng đưa ra một quyết định khiến cho mọi người ai nấy đều kinh ngạc: tạm thời dừng việc khai thác mỏ quặng ở đằng sau gian nhà ở, toàn bộ công nhân kể từ ngày hôm nay sẽ nghỉ ngơi để lấy sức, trong thời gian nghỉ ngơi, công nhân sẽ được nhận gấp đôi tiền lương.

Cái quyết định này khiến cho toàn bộ công nhân cảm thấy vô cùng vui mừng, chỉ có mấy người trực đêm qua là hiểu rõ, anh cả làm như vậy rất có thể là bởi vì tiếng khóc vọng ra từ đống núi đá tối qua. Mặc dù ngoài miệng bọn họ không nói gì nhưng trong lòng ai nấy đều hoài nghi những điều mà anh cả nói với họ tối hôm trước. Bởi vì bọn họ không tin rằng tiếng khóc ma quái kia lại là của một kẻ nào đó đang muốn làm loạn mà nghi rằng đó chính là tiếng kêu của ma quỷ.

Đương nhiên, cái quyết định này của anh cả cũng chỉ là bất đắc dĩ. Anh cũng hoài nghi đó chính là tiếng khóc của những hồn ma như những công nhân có mặt tối qua. Bởi vì bản thân ngọn núi đá ấy chính là một ngôi mộ, hơn nữa ở dưới đó còn chôn vùi thi thể của hàng nghìn người chết thảm.

Tiếng khóc lóc ma mị ấy khiến cho anh cả không thể không nghĩ đến những điều bố đã nói, lại nhớ đến chuyện Mã Tam Nhi gặp phải ma mấy bữa trước, anh cả càng không dám mạo hiểm động thủ. Trước khi bắt tay vào làm, anh cả buộc phải loại bỏ hết những tình huống ngoài ý muốn có thể xảy ra trong quá trình khai thác, nếu không rất có thể sẽ xảy ra chuyện lớn, hơn nữa rất có thể là những chuyện không thể nào ngờ tới. Nếu như vậy, cái mà anh khai thác được không phải là những hạt vàng óng ả mà là những tai họa kinh hoàng.
Anh cả làm như vậy cũng là để ổn định lại tinh thần của các anh em công nhân. Nếu như không có họ bán mạng làm việc cho mình thì cho dù anh cả tôi có tài giỏi đến đâu cũng chẳng thể có được ngày hôm nay. Thế nên anh không thể làm những việc có lỗi với họ, càng không thể vì việc động chạm đến Ngôi mộ đá mà gây ra đại họa cho họ. Thế nhưng anh cả lại không cam tâm từ bỏ Ngôi mộ đá, vì thế anh đã nghĩ ra cái cớ là nghỉ ngơi dưỡng sức để bình ổn lòng công nhân, đồng thời cũng là để dành thời gian cho mình nghĩ cách đối phó.

Không cần làm việc mà vẫn được hưởng lương gấp đôi, những công nhân không biết rõ sự tình ai nấy đều vui như mở cờ trong bụng. Bọn họ hết ăn lại ngủ, hết ngủ lại đánh bài giải sầu. Một việc tốt như vậy đương nhiên rất dễ được người khác tiếp nhận.
Tuy nhiên, anh cả đã quên mất một chân lí, đó là “tai vách mạch rừng”, giấy không thể bọc được lửa. Chưa đầy một ngày, chuyện tiếng khóc ma quỷ tối qua đã âm thầm lan truyền trong đám công nhân. Bề ngoài tưởng rằng họ đang vui vẻ vì không cần làm việc mà vẫn có tiền lương nhưng thật ra ai nấy đều lo ngay ngáy trong lòng. Bởi vì họ nghĩ rằng nơi làm việc của mình không được yên tĩnh nữa rồi.

Khi màn đêm buông xuống, những công nhân tắt đèn thật sớm, ai nấy nằm trên giường nhưng mắt vẫn mở to nhìn vào màn đêm, đôi tai thấp thỏm lắng nghe động tĩnh ở bên ngoài. Quá nửa đêm, tiếng khóc ma quỷ ấy lại vang lên đúng như những gì mà họ đã được nghe nói ban sáng.

Mấy ngày sau đó, cứ sau nửa đêm là từ ngọn núi đá phía sau dãy nhà ở của công nhân lại phát ra tiếng khóc thảm thiết. Tiếng khóc ma mị ấy lúc ẩn lúc hiện, lúc ai oán như kể lể khi lại thảm thiết như phẫn nộ…tiếng khóc ấy hoàn toàn không giống với tiếng khóc của con người, nghe mà rợn cả tóc gáy. Những người công nhân đều truyền tai nhau rằng trong đống đá ấy có ma. Tiếng khóc ma quái lúc nửa đêm khiến cho họ không sao ngủ yên.
Mỗi khi tiếng khóc vang lên, anh cả đều dẫn người đến Ngôi mộ đá đó tìm kiếm nhưng kết quả vẫn không khả quan hơn.

Cứ như vậy, lòng người ngày càng hoang mang, những người công nhân không dám nói gì trước mặt anh cả tôi nhưng đằng sau lưng anh họ bắt đầu suy đoán nọ kia. Chỉ có một điều ai cũng phải công nhân đó là, ngọn núi đá mà anh cả tôi chuẩn bị khai thác có oan hồn, ai động vào đó thì kẻ ấy sẽ gặp phải đại họa.

Ma…vốn là một thứ vô cùng bí hiểm, đó là thứ khiến cho con người kinh hoàng nhất nhưng lại là thứ khiến cho bạn chỉ biết đến sự tồn tại của nó mà không thể nào sờ thấy nó. Những người công nhân làm ở hầm mỏ của anh cả phần lớn đều là những người nông dân từ nơi khác đến. Những người nông thôn phần lớn đều tin vào sự tồn tại của ma quỷ. Bọn họ từ những vùng đất xa xôi bỏ nhà đến nơi heo hút này để làm thuê, gần như sống một cuộc sống tách biệt với thế giới bên ngoài, trái tim vốn dĩ rất thanh thản, giờ gặp phải chuyện ma quỷ này, ngay kể cả những người bạo gan cũng cảm thấy lạnh gáy chứ đừng nói những người nhát gan.

Thế là bắt đầu có người nêu ra yêu cầu muốn về nhà với anh cả. Anh cả tôi ban đầu không đồng ý, nhưng bọn họ nhịn ăn nhịn xuống để chống đối, ép anh cả tôi phải thanh toán tiền lương và thả họ về.

Nhìn thấy bạn bè của mình đã đi hết, những người công nhân đòi nghỉ việc càng ngày càng đông. Trước tình hình này, anh cả bắt đầu hoang mang. Nếu cứ như thế này thì cả trăm người làm thuê chẳng mấy chốc sẽ đi sạch, hầm mỏ của anh vì không có người làm nên cũng đành phải đóng cửa.

Mặc dù đã đến nước này anh cả vẫn không hề nản lòng. Không khai thác được vàng ở trong Ngôi mộ đá anh sẽ hối tiếc cả cuộc đời.

Thế là anh cả vắt óc nghĩ cách giữ chân công nhân. Anh vừa tăng lương cho những công nhân còn ở lại vừa nghĩ cách giải quyết tình hình trước mắt.

Đến bây giờ thì anh cả không thể không thừa nhận ở trong Ngôi mộ đá có oan hồn thật sự. Nếu như công nhân của mình đã bị ma quỷ dọa cho sợ chết khiếp mà phải bỏ đi như vậy, nhất định anh phải nghĩ cách để đuổi đám ma quỷ ấy đi. Chỉ có vậy mới có thể ổn định lòng công nhân và tiếp tục khai thác Ngôi mộ đá.

Nếu như trên đời đã có ma quỷ thì ắt phải có phương pháp hàng ma quỷ, từ nhỏ anh cả đã nghe nói có người có thể hàng ma diệt quỷ. Nghĩ là làm, anh cả đi nghe ngóng khắp nơi, chấp nhận bỏ nhiều tiền để mời về một đạo sĩ có thể xua đuổi ma quỷ. Cuối cùng vẫn là cái tên Kim Vượng ấy thần thông quảng đại, không biết hắn lôi từ đâu về một vị đạo sĩ mặc trên mình bộ quần áo bát quái. Ông đạo sĩ này khoảng hơn bốn mươi, khuôn mặt đen sì, thân hình thấp béo, hai con mắt nhỏ xíu, hai hàng râu hình chữ bát, đeo trên mình một thanh kiếm gỗ dài, eo thắt một cái túi nhỏ, tay cầm một cái cây phất trần, trông dáng điệu có vẻ rất khác người. Anh cả gặp được ông ta mừng rỡ như gặp được cứu tinh, thế nên đã thưởng cho Kim Vượng rất hậu hĩ.

Đạo sĩ bắt ma tự xưng là họ Trương, đến từ phủ Thiên Sư, chấn Thượng Thanh, huyện Quý Khuê tỉnh Giang Tây, còn nói bản thân mình là đệ tử truyền nhân đời thứ sáu mươi lăm của ông tổ sư Trương Thiên Sư nổi tiếng giỏi trừ ma diệt quỷ, đã hành đạo giang hồ rất nhiều năm, tiêu diệt được hàng chục oan hồn gây hại cho dân.

Sau khi được đưa lên mỏ vàng của anh cả, ông ta hỏi đại khái tình hình rồi nhíu mày bước theo hình chữ bát, đi một vòng quanh Ngôi mộ đá. Ông ta cứ nhíu mày đi vài bước lại dừng lại, từ đầu đến cuối chẳng nói nửa lời khiến cho anh cả đi theo sau cũng không dám lên tiếng hỏi han. Những người công nhân hiếu kì từ đằng xa chỉ chỏ, bàn tán xôn xao về ông đạo sĩ. Bọn họ từng nghe nói có người biết bắt ma nhưng chưa bao giờ được nhìn thấy bắt ma như thế nào, vì vậy tâm lí hiếu kì đã đánh bại nỗi sợ hãi trong lòng, mọi người ai nấy đều rủ nhau ra xem chuyện lạ.

Một tiếng đồng hồ sau, đại sĩ Trương đã xem xét xong. Anh cả dẫn ông ta lên văn phòng của mình, sau khi đóng cửa lại, ông Trương thản nhiên ngồi phịch xuống ghế sô pha, đích thân anh cả chạy đi rót nước mời ông ta.

Đạo sĩ Trương bê cốc trà lên rồi lại đặt xuống, vẻ mặt nghiêm nghị nói: -Ông chủ Kim, nếu như ông đã mời tôi về đây bắt ma, có một số chuyện tôi buộc phải nói rõ với ông, bần đạo giờ có điều muốn hỏi, hi vọng ông hãy trả lời thành thực!

Anh cả tôi gật đầu lia lịa, vội vàng đáp: -Đạo sĩ Trương có gì cứ hỏi, chỉ cần Kim Quý biết nhất định sẽ không giấu diếm.

Đạo sĩ Trương lại bưng cốc trà lên, chậm rãi nhấp một ngụm rồi nheo nheo mắt nhìn anh: -Ông chủ Kim, ông có thể nói cho bần đạo biết nguồn gốc của ngọn núi đá này không?
Anh cả ngẩn người hồi lâu mới đáp lời: -Đạo sĩ Trương, đống đá này chẳng qua chỉ là một ngọn núi đá nhỏ nằm ở lưng chừng núi, có lẽ nó được hình thành tự nhiên, không hề có nguồn gốc gì cả!- anh cả không muốn nói ra sự thực với đạo sĩ Trương. Trong lòng anh cũng có cách nghĩ của riêng mình, một là bí mật của Ngôi mộ đá không được phép nói ra, hai là anh cũng muốn xem xem ông đạo sĩ đang ngồi trước mặt mình có nhìn ra được điều gì hay không, liệu ông ta có bản lĩnh thật sự không?

Đạo sĩ Trương nghe anh cả nói vậy thì im lặng hồi lâu, đôi mắt mở to nghi hoặc nhìn anh cả. Sau đó ông ta từ từ gật gật đầu:

-Ông chủ Kim, tôi lại hỏi ông, ông đã khai thác ở đây bao nhiêu lâu rồi?- đạo sĩ Trương hỏi tiếp.

Anh cả nhẩm tính rồi đáp: -Đến giờ đã là hai mốt năm ạ!

-Vậy thì trước đó hầm mỏ của ông đã bao giờ có ma chưa?

-Chưa!

-Chưa một lần nào á?

Anh cả nghĩ ngợi một hồi rồi đáp: -Có…có đấy, ông không nhắc thì tôi cũng quên mất, mười ngày trước anh đầu bếp của chúng tôi tên là Mã Tam Nhi nửa đêm dậy đi vệ sinh có gặp ma.

-Hả? Ông có thể cho gọi anh chàng đó đến đây được không?

-Được được ạ! Tôi lập tức cho gọi cậu ta đến ngay!

Mã Tam Nhi kể từ ngày gặp ma đến giờ cứ như người mất hồn, đi đâu cũng phải có người đi cùng. Bởi vì anh ta bị một phen vỡ mật, thế mà hàng ngày vẫn phải nấu nướng cho công nhân ăn uống, thế nên anh cả đặc biệt chăm sóc cho anh ta, còn sắp xếp cho Mã Tam Nhi một trợ thủ đắc lực. Sau khi xảy ra chuyện ma quỷ khóc lóc lúc nửa đêm, Mã Tam Nhi càng thêm khiếp đảm, anh ta là người đầu tiên đến tìm anh cả để xin anh cả cho về nhà. Bởi vì anh cả tạm thời không tìm được đầu bếp thay thế, hơn nữa công nhân đều ăn quen món ăn do Mã Tam Nhi nấu nên anh cả đã cố gắng giữ chân anh ta lại, còn lén cho cậu ta một vạn đồng ngoài tiền lương. Mã Tam Nhi cảm kích trước tấm lòng của anh cả nên ngại không nỡ bỏ đi.

Chẳng mấy chốc anh cả đã dẫn Mã Tam Nhi đến văn phòng mình, đạo sĩ Trương ra ý bảo anh đóng cửa lại rồi đừng dậy nhìn Mã Tam Nhi hồi lâu. Cái nhìn của đạo sĩ Trương khiến cho Mã Tam Nhi sởn gai ốc.

-Cậu chính là Mã Tam Nhi, người mà hôm trước đã nhìn thấy ma phải không?

Mã Tam Nhi gật đầu lia lịa.

Đạo sĩ Trương nhíu mày bấm đốt ngón tay nhẩm tính rồi hỏi tiếp: -Hôm nay là mùng bốn tháng chín âm lịch, nếu như tôi không tính sai thì bảy bảy bốn chín ngày trước chính là sinh nhật hai chín tuổi của cậu, có phải không?

Mã Tam Nhi kinh ngạc đáp: -Đạo…đạo sĩ Trương, sao ông biết sinh nhật của tôi? Tôi quả thực là sinh vào ngày mười lăm tháng bảy âm lịch.

Anh cả đứng bên cạnh Mã Tam Nhi cũng há hốc mồm kinh ngạc.

-Tôi còn biết anh sinh vào chiều tối ngày mười lăm tháng bảy năm 1977 âm lịch, có đúng không?

Miệng Mã Tam Nhi há hốc ra vì kinh ngạc, hồi lâu sau mới khóc nhọc nuốt nước bọt đánh “ực” một cái nói: -Đạo trưởng….trưởng Trương….không…Thần tiên Trương, ngài nói không sai chút nào, tôi sinh vào chiều tối ngày mười lăm tháng bảy âm lịch. Mẹ tôi từng nói lúc sinh tôi ra bố tôi không có nhà. Lúc ấy bố tôi đi ra mộ bái lễ tổ tiên.

Lần này thì anh tôi càng thêm kinh ngạc và bụng mừng thầm vì mình đã tìm được một vị đạo sĩ có tài, xem ra việc hàng ma ở Ngôi mộ đá đã có chút hi vọng rồi.

Vị đạo sĩ đến trừ ma cho anh cả không những có thể nói chính xác ngày sinh của Mã Tam Nhi mà còn biết được Mã Tam Nhi là một người nhu nhược, hay ốm đau và rất nhát gan, mà đám ma quỷ lại rất hay tìm đến những người như anh ta. Vì vậy mà có biết bao nhiêu công nhân ở hầm mỏ đều không ai thấy ma, chỉ duy nhất có mình anh ta gặp ma.

Mã Tam Nhi nghe xong liền quỳ phịch xuống trước mặt đạo sĩ Trương, vừa dập đầu vừa cầu xin: -Thần tiên Trương, xin ngài hãy làm phép cứu tôi với, tôi biết chắc chắn ngài sẽ có cách, sau này tôi không muốn nhìn thấy ma nữa đâu!

Đạo sĩ Trương kéo Mã Tam Nhi đứng dậy, lấy một cái túi bọc bằng giấy màu vàng từ trong thắt lưng rồi bảo: -Cậu mang túi bột định hồn này về uống trong bảy ngày, tuyệt đối không được nói chuyện với bất cứ ai trong bảy ngày đó, đảm bảo sẽ có tác dụng!
Mã Tam Nhi mừng rỡ nhìn ông đạo sĩ cảm kích rồi khom lưng kính cẩn nhận lấy cái túi đó từ tay đạo sĩ Trương.

Tận mắt chứng kiến cảnh tượng vừa rồi, anh cả bỗng cảm thấy kính nể vị đạo sĩ này. Anh tha thiết đề nghị đạo sĩ Trương hãy giúp anh hàng ma ở Ngôi mộ đá. Thậm chí anh còn khảng khái hứa rằng ngoài phần tiền thù lao, sau khi làm xong việc anh sẽ tặng cho đạo sĩ Trương một lễ vật hậu hĩ.

Mười một giờ đêm, đạo sĩ Trương bắt đầu chuẩn bị hàng ma. Ông ta bảo anh cả bày một bàn hình vuông ở phía bắc ngôi mộ đá, xung quanh cái bàn, cứ cách hai mét lại cắm một cây nến đang cháy. Ông ta đứng ở trước cái bàn, lấy ra một chiếc khăn trải bàn màu vàng từ trong cái túi ở thắt lưng rồi trải lên bàn, cho người đặt một bát hương và cắm ba cây hương to vào đó, lần lượt dâng lên bài vị của ông tổ sư, Thái Ức Chân Nhân và ma vương, sau đó lấy ra ba cái chén, một cái bát rộng miệng và một tờ giấy màu vàng trên đó có vẽ các hình thù kì dị. Sau khi đã chuẩn bị xong xuôi mọi thứ, đạo sĩ Trường liền ngẩng đầu nhìn sao Bắc Đẩu trên bầu trời rồi bấm đốt ngon tay nhẩm tính thời gian.

Anh cả đứng ở cách đó rất xa đưa tay lên nhìn đồng hồ, kim giờ đã chuẩn bị chỉ đến không giờ, tim anh đập thình thịch. Anh biết đạo sĩ Trương chuẩn bị làm phép bắt ma đến nơi rồi…..

Nói ra thật kì lạ, đêm nay đạo sĩ Trương lập đàn bắt ma, thế nhưng đã nửa đêm rồi mà không thấy tiếng khóc lóc ma quỷ nọ xuất hiện.

Đám công nhân sau lưng anh cả tò mò đứng quan sát. Họ nhìn thấy đạo sĩ Trương quỳ xuống trước hương án bái lạy Trương Thiên Sư, Thái Ức Chân Nhân và Ma Vương rồi xếp ba cái hoàng phù thành hàng dọc ở trên bàn. Tiếp đó tay trái ông cầm cây phất trần, tay phải đặt trước ngực, hai mắt nhắm lại, miệng lẩm bẩm đọc thần chú. Chẳng mấy chốc, hai cánh tay đạo sĩ Trương khua loạn lên, toàn thân co giật như lên cơn động kinh. Khoảng hai phút sau, ông ta đột nhiên rùng mình một cái rồi đứng yên, hai mắt trừng lên, thân hình thẳng đứng, động tác cứng đơ và chậm chạp như một thi thể bị đông cứng.

Hành vi kì quái của đạo sĩ Trương khiến cho những người công nhân cảm thấy rất buồn cười nhưng không ai dám cười.

Đúng lúc ấy, đạo sĩ Trương nâng cây kiếm lên trước ngực, chỉ về phía Ngôi mộ đá nói lớn: -Các oan hồn hãy nghe đây, ta phụng lệnh Thái Thượng Lão Quân đên đây đưa các cô hồn về địa ngục. Các ngươi còn không mau mau ra đây tạ ơn?

Đạo sĩ Trương nói xong, chắc là vì không thấy các oan hồn có phản ứng gì liền đứng dậy, cầm thanh kiếm gỗ lên, lùi lại sau một bước, hướng về phía Ngôi mộ đa quát lớn: -Nếu các ngươi còn cố chấp không chịu tỉnh ngộ thì chớ trách bần đạo không khách khí!- mặc dù ông ta nói như vậy nhưng vẫn chẳng thấy bên trong Ngôi mộ đá có động tĩnh gì.
Đạo sĩ Trương phẫn nộ hét lên một tiếng, cầm cây kiếm gỗ chọc vào một cái hoàng phù rồi múa may loạn xa.

Cây kiếm gỗ trong tay đạo sĩ Trương càng múa càng nhanh, khoảng mấy phút sau, thanh kiếm trong tay ông đạo sĩ đột nhiên dừng lại, hai cánh tay buông thõng xuống. “Bịch” một tiếng, đạo sĩ Trương đột nhiên ngã ngửa ra sau.

Anh cả chẳng chút sợ hãi vội vàng lao đến đỡ ông đứng dậy, chợt giật mình phát hiện ra trên khóe miệng ông ta có một dòng máu đen chảy ra.

-Ông…ông chủ Kim, mau mau đỡ tôi về phòng, bần đạo có điều muốn nói với ông!- đạo sĩ Trương khó nhọc nói.

Đám đông bu lại dìu đạo trưởng Trương về văn phòng của anh cả. Đạo sĩ Trương bảo anh cả cho các công nhân về phòng nghỉ ngơi, chỉ để lại mấy vệ sĩ và người trực đêm ở lại mỏ.
Sau khi đóng cửa lại, đạo sĩ Trương lấy ra từ trong túi áo một viên thuốc rồi nhét vào miệng mình. Hồi lâu sau ông mới định thần lại, nói: -Ông chủ Kim, không giấu gì ông, mỏ vàng của ông e là khó mà khai thác được!

Anh cả sốt ruột hỏi: -Đạo sĩ Trương, ông nói vậy là sao?

Đạo sĩ Trương liếc mắt ra ý, anh cả lập tức hiểu ý ông ta liền cho vệ sĩ và những công nhân trực đêm ra ngoài.

-Ông chủ Kim, cái đống đá sau lưng gian phòng ở này không phải là ngọn núi đá hình thành tự nhiên như ông nói đâu mà là một ngôi mộ chôn vùi các oan hồn đấy!

Điều này chẳng cần nói anh cả tôi cũng biết rất rõ, nhưng điều này lại được nói ra từ miệng của đạo sĩ Trương thì khác. Giờ thì anh cả hoàn toàn tin vào ông đạo sĩ này.
-Đạo….đạo sĩ Trương, thế này là thế nào? Ngài có thể nói tường tận một chút không?- anh cả giả vờ như không hiểu.

-Ông chủ Kim, ông bảo tôi đến đây bắt ma nhưng thực ra cái đống đá ấy chẳng phải chỉ có một hai con ma mà có đến hàng nghìn oan hồn đã bị chết thảm. Cái núi đá phía sau dãy nhà ở này thực chất là một ngôi mộ, nếu như tôi không nhầm thì đó chính là ngôi mộ của hàng nghìn người bị chết thảm cách đây cả trăm năm. Chính bởi vì chôn vùi quá nhiều oan hồn nên âm khí quá nặng, ngay cả ông tổ sư của tôi cũng không thể hàng phục nổi. Xin lượng thứ cho bần đạo vô dụng, không thể hàng phục vài nghìn oan hồn ở đó cho ông được!
Anh cả cúi xuống nói khẽ với đạo sĩ: -Đạo sĩ Trương, tôi tin những gì ngài nói ra thật, lẽ nào không còn cách nào khác sao?

Đạo sĩ Trương nhíu mày nghĩ ngợi hồi lâu rồi thở dài nói: -Không giấu gì ông, khai thác ngọn núi đá này là chuyện không thể. Nếu như ông muốn bình ổn chuyện này, bần đạo có một chủ ý, không biết ông chủ Kim có muốn nghe hay không?

Anh cả vội vàng đáp: -Đạo sĩ Trương, nếu như ông đã nói vậy tôi cũng sẽ không khai thác ở đó nữa. Nhưng bây giờ vì chuyện khai thác mỏ mà kinh động đến những oan hồn trong đó, ông hãy nói cho tôi biết cách xử lí chuyện này, tôi bây giờ chỉ cần bình an, không cần bất kì thứ gì khác nữa!- mặc dù anh cả miệng nói dứt khoát vậy nhưng thực ra đây cũng chỉ là chuyện bất đắc dĩ mà thôi.

Đạo sĩ Trương trầm ngâm hồi lâu rồi chậm rãi nói: Cách thì bần đạo cũng có một cách này, chỉ có điều….- nói đến đây ông đạo sĩ chợt ngập ngừng.

Anh cả hiểu ý vội vàng tiếp lời: -Đạo sĩ Trương xin cứ yên tâm, mặc dù ông không hàng được ma nhưng dù sao đây cũng là ý trời, không thể trách ông được, tiền thù lao mà chúng ta đã thỏa thuận trước đó tôi sẽ trả ông không thiếu một đồng, chỉ cần ông có thể bảo đảm cho tôi bình an vô sự, tôi sẽ thưởng thêm cho ông!

Trong bụng thầm nhủ đã đạt được mục đích rồi, nhưng ngoài miệng ông đạo sĩ vẫn nói: -Ông chủ Kim khách khí quá rồi, bần đạo đâu phải kẻ hám lợi, ý của tôi là, cách bảo đảm cho ông bình an vô sự thì có, chỉ có điều phải bỏ ra một khoản kha khá mới được.
Thứ mà anh tôi có nhiều nhất chính là tiền, hơn nữa anh cũng chẳng phải là một kẻ keo kiệt, nghe đạo sĩ Trương nói vậy anh chỉ cười nói: -Đạo trưởng Trương, cái chân lí bỏ tiền ra để tránh tai họa ai ai cũng biết, Kim Quý tôi đâu có tiếc tiên chi tiêu cho chuyện này, ngài cứ nói luôn cách giải quyết ra đi, chỉ cần bình an thì có là bao nhiêu tôi cũng chi!

Lúc này đạo sĩ Trương mới yên tâm, ông ta tỏ vẻ bí ẩn lại gần anh cả, thì thầm vào tai anh điều gì đó. Anh cả nghe xong gật đầu lia lịa.

VẺ ĐẸP CỦA SÔNG HƯƠNG QUA GÓC NHÌN CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nhà văn có phong cách độc đáo và sở trường về thể bút kí, tuỳ bút. Lời văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường được cấu tạo bởi hệ thống ngôn từ nghệ thuật sang trọng, ám ảnh, đậm chất trữ tình của cái tôi uyên bác, tài hoa. Ông là một trí thức yêu nước, đã từng gắn bó đời mình với cuộc kháng chiến chống Mỹ gian khổ, anh hùng của dân tộc. Để rồi, sau năm 1975, khi đất nước thống nhất, ông đã chắp bút viết tập kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”.

Trong tác phẩm, nhà văn gắn bó lòng yêu nước, tinh thần dân tộc với tình yêu sâu sắc dành cho thiên nhiên đất nước và với truyền thống văn hoá lịch sử lâu đời của dân tộc mà ông đã bỏ công say mê tìm tòi, tích luỹ cả một đời người. Tất cả những phẩm chất ấy đã được thể hiện rất rõ qua việc ông tái hiện lại vẻ đẹp của dòng sông Hương như một nhân vật trữ tình, với những nét tính cách phức tạp, biến đổi một cách kì diệu trong không gian thời gian. Tất cả được phô diễn qua những lời văn giàu chất trí tuệ, kết hợp giữa tự sự và trữ tình tài hoa, mê đắm.

Sông Hương hiện ra qua sự kết hợp nhiều góc nhìn khác nhau của Hoàng Phủ Ngọc Tường, từ địa lý, lịch sử, văn hoá, nghệ thuật… “hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất. Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa những bóng cây đại ngàn mãnh liệt qua những ghềnh thác”. Nhưng rồi cũng có những lúc sông Hương “trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Viết tuỳ bút, theo Nguyễn Tuân là “lối chơi độc tấu”, “mạch văn tràn chảy tuỳ theo cảm hứng”.

Đặc trưng này xác đáng với những lời văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường miêu tả về sông Hương. Nhà văn đã đưa người đọc đến những liên tưởng bất ngờ, khi ông so sánh “Sông Hương đã sống một nửa cuộc đời mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”. Ông cho rằng sông Hương là đứa con của rừng già với một tâm hồn tự do và trong sáng, để rồi rừng già đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng, “sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở”.

Với đôi mắt khảo sát nghiêm túc của nhà địa lí có một tầm văn hoá sâu rộng, kết hợp vốn ngôn từ nghệ thuật phong phú mượt mà giàu chất thi họa, Hoàng Phủ Ngọc Tường tái hiện thủy trình của sông Hương từ vùng trung du trở xuống, nó liên tục chuyển dòng, “theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó”. Nhà văn đã đặt sông Hương vào giữa cảnh quan núi đồi, lăng tẩm, bãi biển vùng ngoại ô tây-nam thành phố Huế, gương mặt Hương Giang trong xanh phẳng lặng tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố, “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nhìn dòng sông Hương như một chủ thể có ý thức góp phần tôn vinh thêm vẻ đẹp của xứ Huế. Và trước khi về với Huế, sông Hương trôi lặng thầm giữa một vùng không gian “Bốn bề núi phủ mây phong. Mảnh trăng thiên cổ bóng tùng vạn niên”.

Giữa đám quần sơn lô xô, ở phía tây thành Huế, nơi dành cho giấc ngủ ngàn năm của các bậc vua chúa thời Nguyễn, sông Hương hiện ra với vẻ đẹp trầm mặc như triết lí, như cổ thi kéo dài mãi “giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”. Đến khi sông Hương đổ vào thành phố tương lai của nó, “nó đã kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam-đông bắc…, nó đã thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như vành trăng non”. Nhà văn đã dành cho sông Hương một tình cảm trìu mến, thân thương.

Có như vậy, ông mới liên tưởng trạng thái sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang cồn Hến như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu. Đôi mắt sâu sắc của nhà văn đã nhìn ra mối quan hệ biện chứng giữa dòng sông Hương mềm mại với con người xứ Huế. Sông Hương dịu dàng, duyên dáng như đã góp phần hình thành nên tính cách nết na, ý nhị của người con gái cố đô.

Với một trình độ văn hoá uyên bác, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã so sánh vẻ đẹp của sông Hương với nhiều dòng sông nổi tiếng thế giới như sông Xen của Pari, sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét, sông Nê-va của Nga,… Từ đó mà ông đã tôn vinh vẻ đẹp độc đáo của dòng sông Hương vào buổi đêm về, “vẫn lập lòe trong đêm sương, những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ mà không một thành phố hiện đại nào còn nhìn thấy được”. Nhà văn quý điệu chảy lững lờ của sông Hương qua thành Huế. Ông cho rằng “Đây là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế, có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng bảy… chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng.”

Có thể nói rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nhà văn hoá Huế, ông không chỉ nhìn sông Hương trôi ở trong thì hiện tại, ngày ngày mang phù sa và nguồn nước ngọt trao tặng vô tư cho những cánh đồng Châu Hoà, cho cuộc sống người dân xứ Huế; mà ông còn nhìn sông Hương như là khởi nguồn cho những giá trị tinh thần lịch sử.

Sông Hương trong quá khứ qua các triều đại phong kiến vàng son, nó đã từng mang cái tên Linh giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam Tổ quốc nước Đại Việt. Nó đã từng vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của anh hùng Nguyễn Huệ, rồi nó đi suốt qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ góp phần làm nên những chiến công lẫy lừng vang dội cả thế giới như lời đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phát biểu: “Lịch sử Đảng đã ghi bằng nét son tên của thành phố Huế, thành phố tuy nhỏ nhưng đã cống hiến rất xứng đáng cho Tổ quốc”.

Từ hiện thực kiêu hùng của Huế, mà Hoàng Phủ Ngọc Tường cho rằng: “Sông Hương là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết dưới màu cỏ lá xanh biếc”. Mặt khác, sông Hương cũng là cội nguồn của thi ca nghệ thuật. Có biết bao văn nhân, thi sĩ đã từng rung động với dòng sông Hương như Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Tản Đà, Tố Hữu. Nhà văn đã tin rằng “có một dòng sông thi ca về sông Hương và tôi hy vọng đã nhận xét một cách công bằng về nó khi nói rằng dòng sông ấy không bao giờ lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ”. Cao Bá Quát đã từng nhìn sông Hương mà thốt lên rằng: “Trường giang như kiếm lập thanh thiên”. Tản Đà thấy “dòng sông trắng, lá cây xanh”.

Hàn Mặc Tử thì lại so sánh tôn vinh sông Hương như sông ngân hà: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó/Có chở trăng về kịp tối nay”. Thu Bồn nhìn dòng nước lững lờ của sông Hương mà bâng khuâng “con sông dùng dằng con sông không chảy/Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”. Và với Nguyễn Trọng Tạo, Hương Giang lãng đãng một bầu khí quyển huyền thoại thi ca giúp nhà thơ thăng hoa những vần mê đắm:

“Con sông đám cưới Huyền Trân
Bỏ quên dải lụa phù vân trên nguồn
Hèn chi thơm thảo nỗi buồn
Niềm riêng nhuộm tím hoàng hôn đến giờ
Con sông nửa thực nửa mơ
Nửa mong Lí Bạch, nửa chờ Khuất Nguyên”

Đất nước Việt Nam có rất nhiều dòng sông chảy qua mọi miền xứ sở, và nó đã kịp chảy vào trong những vần thơ, trang văn tuyệt vời. Bạn đọc từng xót xa với Hoàng Cầm khi nghe tin sông Đuống bị quân thù chiếm đóng. Nhà thơ đã thốt lên: “Sông Đuống trôi đi/Một dòng lấp lánh/Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì”. Công chúng yêu văn cũng đã chiêm ngưỡng vẻ đẹp hung bạo và trữ tình của “Đà Giang độc bắc lưu” qua những “trang hoa” xuất sắc của nhà tuỳ bút hàng đầu Nguyễn Tuân.

Giờ chúng ta lại tìm đến với sông Hương-dòng sông chỉ tự thu mình khiêm tốn trong lãnh địa Thừa Thiên Huế, nhưng qua những trang kí tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường sông Hương hiện ra với những vẻ đẹp dịu dàng, tinh tế, góp phần làm cho Huế trở nên một bức tranh sơn thuỷ hữu tình. Hơn thế, sông Hương còn là dòng sông lịch sử, văn hoá, thơ ca, nghệ thuật. Nó đã là một phần trong đời sống tâm linh của người Huế trầm mặc, sâu sắc.

Câu hỏi “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã gợi lên trong miền tình cảm của bạn đọc nhiều băn khoăn về một dòng sông ngỡ là quá quen, hoá ra lại có nhiều bí ẩn cần được khám phá thêm. Có như vậy, chúng ta mới hiểu sâu sắc hơn về quê hương đất nước, tự hào hơn về giang sơn cẩm tú Việt Nam.

Đề 2: Cái tôi Hoàng Phủ Ngọc Tường

+ Uyên bác (kiến thức về lịch sử, địa lí, văn hóa…)

+ Tinh tế, tài hoa (cảm nhận những khía cạnh khuất lấp của con sông: nét hoang dại…; ngôn so sánh độc đáo, ngôn từ phong phú gợi cảm…)

+ Giàu trí tưởng tượng, lãng mạn, bay bổng (tưởng tượng hành trình tìm về cố đô như hành trình tìm về với “người tình mong đợi”…)

+ Gắn bó máu thịt và tự hào với cảnh vật và con người Huế (những suy tưởng, đối sánh khi đứng trước sông Nê-va…).

Gợi ý giải đề:

Đề 1:

+ Khái quát:

– Vị trí : hình tượng trung tâm, thể hiện những nét độc đáo về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.

– Mô tả tổng quát: Sông Hương qua cảm nhận của Hoàng Phủ Ngọc Tường hiện lên như một “cô gái Di-gan”: mãnh liệt, mê đắm nhưng không kém phần dịu dàng, tình tứ, ý nhị.

+ Phân tích:

– Vẻ đẹp của Sông Hương ở thượng nguồn.

– Vẻ đẹp của Sông Hương khi chảy qua kinh thành Huế.

– Vẻ đẹp Sông Hương qua những áng thơ văn.

– Vẻ đẹp hùng tráng trong lịch sử.

+ Đánh giá:

– Khám phá ra một Sông Hương độc đáo, đa sắc.

– Cơ sở:

• Quan sát tinh tế, sự suy ngẫm > đặt Sông Hương trong nhiều chiều (không gian địa lí, thời gian lịch sử, tâm hồn thi ca, chiều sâu văn hóa, tâm linh…)

• Tài hoa, khả năng liên tưởng và vốn từ vựng phong phú.

– Qua miêu tả sông Hương thể hiện phong cách tùy bút Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Mục đích chuyên đề này nhằm giúp các em củng cố những kiến thức cơ bản xoay quanh tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông”.
– Hình tượng dòng Hương qua cảm nhận độc đáo của nhà văn.
– Hình tượng nhân vật tôi nhạy cảm, giàu suy nghiệm.
– Phong cách tùy bút Hoàng Phủ Ngọc Tường.

KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Khái quát:
a. Tác giả:
+ Tiểu sử

– Sinh ra, nhiều năm sống và hoạt động cách mạng, công tác tại Huế > gắn bó với đất và người nơi đây, am hiểu sâu sắc cội nguồn và linh hồn văn hóa xứ sở.

+ Con người:
– Trí thức yêu nước.
– Vốn hiểu biết sâu rông trên nhiều lĩnh vực.

+ Sáng tác:

– Sở trường: bút kí, tùy bút.
– Phong cách nghệ thuật:

• Sự kết hợp nhuần nhuyễn

o Giữa chất trí tuệ và chất trữ tình.
o Nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều trên nền tảng hiểu biết sâu rộng về triết học, văn hoá, lịch sử…

• Hành văn: hướng nội (hướng vào bên trong, vào thế giới nội tâm nhiều trăn trở, thâm trầm, sâu lắng), súc tích, mê đắm, tài hoa.

b. Tác phẩm

+ Xuất xứ:

– Viết tại Huế, 1981.
– In trong tập sách cùng tên > lấy tác phẩm làm nhan đề cho một tập bút kí > vị trí văn học sử: tác phẩm bút kí tiêu biểu của nhà văn.

+ Bố cục:

– Đoạn 1 (từ đầu – dưới chân núi Kim Phụng): Sông Hương nhìn từ nguồn cội.
– Đoạn 2 (tiếp – quê hương xứ sở): Sông Hương trong mối quan hệ với kinh thành Huế.
– Đoạn 3 (còn lại): Sông Hương trong mối quan hệ với lịch sử dân tộc, với cuộc đòi và thi ca..

 

2. Phân tích

a. Đoạn 1: Sông Hương nhìn từ nguồn cội.

+ Nhìn từ cội nguồn: có mối quan hệ sâu sắc với dãy Trường Sơn: như một “bản trường ca của rừng già” với nhiều tiết tấu trầm bổng.

– Rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn > hùng tráng.
– Mãnh liệt vượt qua ghềnh thác > ào ạt.
– Cuộn xoáy như những cơn lốc vào những đáy vực sâu > dữ dội.
– Dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi của hoa đỗ quyên rừng > nên thơ, tình tứ, mê đắm.

+ Biện pháp nhân hoá: Sông Hương như “cô gái Di – gan phóng khoáng và man dại”, với “bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng” > nữ tính, vừa dịu dàng vừa mãnh liệt hoang sơ > không chỉ ngắm nghía “khuôn mặt kinh thành”, nhà văn còn khơi về nguồn cội để khám phá vẻ đẹp tâm hồn thăm thẳm mà chính dòng sông cũng không muốn bộc lộ.

ð Hé mở một phát hiện mới của tác giả về vẻ dẹp của Sông Hương: Người ta hay nghe tới sông Hương gắn với Huế “dịu dàng pha lẫn trầm tư”, êm đềm, trong trẻo nay lại biết tới phần dữ dội, mê hoặc, khó cưỡng của dòng sông.

b. Đoạn 2: Sông Hương trong mối quan hệ với kinh thành Huế

+ Quan hệ giữa sông Hương và có đô: “người tình mong đợi” >hành trình về cố đô được hình dung như “một cuộc tìm kiếm có ý thức” một người tình trong mộng của người con gái.
+ Hành trình về xuôi tìm “người tình mong đợi”

– Giữa cánh đồng Châu Hoá đầy hoa dại: là “cô gái đẹp ngủ mơ màng” > gợi nhớ truyện cổ tích “Công chúa ngủ trong rừng” > vẻongf đẹp lãng mạn của câu chuyện cổ.

– Khi ra khỏi vùng núi: “chuyển dòng liên tục, vòng những khúc quanh đột ngột’, “vẽ một hình cung thật tròn, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, vượt qua, đi giữa âm vang, trôi di giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột” > linh hoạt, rạo rực sức trẻ và sự khao khát.
– Qua Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo: “mềm như tấm lụa”
– Qua những dãy đồi tây nam thành phố: ánh lên “những mảng phản quang nhiều màu sắc” “ sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”
– Qua lăng tẩm đền đài: “vẻ đẹp trầm mặc nhất” “như triết lí, như cổ thi” > so sánh độc đáo, giàu sức gợi > tả mặt nước phẳng lặng và không gian bờ bãi u tịnh bằng liên tưởng tới triết học, thơ cổ > nổi bật vẻ thâm nghiêm, bao nhiêu thăng trầm lịch sử, bao nhiêu dời đổi của các triều đại đã tạo thành trầm tích văn hóa lặn vào vẻ đẹp ngàn năm không suy xuyển của dòng nước > thấp thoáng hình ảnh một “cái tôi” giàu suy tư.
– Khi gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ: tươi tắn và trẻ trung

Nhận xét:

• Sông Hương chảy qua nhiều địa danh khác nhau, mỗi địa danh mà chỉ nhắc thôi ngưòi ta đã thấy bao tầng sâu văn hiến > nhiều dáng vẻ Sông Hương được khám phá ở nhiều góc nhìn.
• Diện mạo: vừa mạnh mẽ vừa dịu dàng.
• Bút pháp: kể và tả, sự liệt kê được thơ hoá bằng thụ cảm tài hoa, tinh tế.

+ Sông Hương khi chảy vào thành phố:

– Giữa những biền bãi xanh biếc của ngoại ô Kim Long: Vui tươi hẳn lên > tâm trạng của một người đi xa “tìm đúng đường về”, nao nức bồi hồi giữa bờ bãi than thuộc của quê hương.
– Giáp mặt thành phố ở Cồn Giã Viên: uốn một cánh cung rất nhẹ sang Cồn Hến > làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu > so sánh lạ, dùng tiếng “vâng” vốn trừu tượng, e ấp, ngập ngừng, ý vị, thiêng liêng trên bờ môi cô gái đang yêu để tả hình dáng mềm mại nơi cánh cung của dòng sông > cái nhìn tình từ, thống nhất, đem lại cho người đọc những khoái cảm thẩm mĩ độc đáo.
– Liên tưởng và suy tư của nghệ sĩ:

• So sánh sông Hương với sông Xen của Paris, sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét > những tên sông đã trở thành linh hồn của thủ đô các nước, thành biểu tượng văn hóa của quốc gia > ngầm thể hiện lòng tự hào về sông Hương và kinh thành Huế. (Liên hệ với Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo”: đặt các triều đại Việt Nam sánh ngang với các triều đại Trung Hoa)
• Liên tưởng khi từ khói lửa miền Nam tới Lê –nin-grát, đứng nhìn sông Nê-va, lâu năm xa Huế:

o Sống dậy giấc mơ lộng lẫy của tuổi dại: muốn hóa làm một con chim nhỏ đứng co một chân trên con tàu thủy tinh để đi ra biển.
o Cuống quýt vỗ tay, nhưng sông Nê-va đã chảy nhanh quá, không kịp cho lũ hải âu nói một điều gì với người bạn của chúng đang ngẩn ngơ trông theo > Hai nghìn năm trước: triết gia Hi Lạp “khóc suốt đời vì dòng sông trôi đi quá nhanh”.
o Nhớ lại con sông Hương: “quý điệu chảy lững lờ của nó khi đi ngang thành phố”> điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế.
ð Khám phá vả cảm nhận sâu sắc đặc trưng riêng của dòng sông khi chảy qua kinh thành Huế: điệu chảy êm đềm, chậm mềm, lặng lẽ, như không vương vấn chút nào cái xô bồ của thời gian, sự nuối tiếc của con người vì mọi thứ một đi không trở lại > Sông Hương nguyên sơ, trăm năm không đổi thay, như mang thần thái, quan niệm vũ trụ tuần hoàn của Phương Đông, như điệu chảy thời gian bất di bất dịch trong thơ ca cổ điển Việt Nam và Trung Hoa > Sông Hương mang cảm nghiệm thời gian và niềm tự hào của nhà thơ.

– Sông Hương “trong khoảnh khắc trùng lại của sông nước”: người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya > liên tưởng:

• Nền âm nhạc cổ điển Huế: “được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này” > Sông Hương gắn với lịch sử âm nhạc lâu đồi của Huế, là cái nôi hình thành nền âm nhạc truyền thống > gợi nhắc đến sông Nile, sông Hắng, sông Hoàng Hà – cũng là những cái nôi hình thành những nền văn hóa lớn trên thế giới > nhà văn cảm nhận dòng sông ở góc độ văn hóa.
• Nguyễn Du và Truyện Kiều > linh hồn, niềm tự hào của quốc văn Việt Nam > dòng sông mang những thổn thức của cha ông, gắn bó với các giá trị văn hóa, văn học kinh điển của dân tộc > là dòng chảy vắt từ quá khứ, mang bao phù sa, trầm tích văn hóa hiện diện trong ngày hôm nay.

+ Nỗi lưu luyến khi rời khỏi kinh thành:

– Rời khỏi kinh thành, chếch về hướng chính bắc.
– Sực nhớ điều gì chưa kịp nói > đột ngột đổi dòng dể gặp lại thành phố lần cuối
– Liên tưởng:

• Rất lạ với tự nhiên và rất giống với con người ở đây > nỗi vương vấn, chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu
• So sánh: sông Hương, kinh thành Huế – nàng Kiều, Kim Trọng > Tấm lòng người dân Châu Hóa xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở

ð Có 3 so sánh bắc cầu: sông Hương trong khúc ngoặt chia tay kinh thành Huế -Thúy Kiều trong đêm tình tự gửi lời nguyện thề cùng Kim Trọng – người Châu Hóa mãi thủy chung với xóm làng > từ dòng chảy khác lạ của dòng sông liên tưởng tới mối tình kín đáo, e ấp, trước sau như nhất của Kim – Kiều, so sánh với tình yêu quê hương xứ sở của người Huế > mượn tình cảm riêng để khái quát mối tình chung, làm cho tình yêu đất, yêu nước không chung chung, to tát mà mềm mại, ý vị, tinh tế, mà đằm thắm, thiêng liêng, sâu sắc.

c. Đoạn 3: Sông Hương trong mối quan hệ với lịch sử. với cuộc đời và thi ca

+ Trong mối quan hệ với lịch sử:

– Điểm lại dấu ấn dòng sông trong lịch sử dân tộc: thế kỉ XV ở “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, thế kỉ XVIII qua chiến thắng của anh hùng Nguyễn Huệ, thế kí XIX với máu của các cuộc khởi nghĩa, đi vào thời đại của cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển > tham gia, trải nghiệm cùng những bước thăng trầm của lịch sử dân tộc.
– Khái quát: Sông Hương là vậy, là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc. Khi nghe lời gọi, nó biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công, để rồi nó trở vè với cuộc sống bình thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước.

ð Nếu như ở đoạn 1 và 2, sông Hương được cảm nhận chủ yếu trên bề rộng của không gian địa lí với những liên tưởng độc đáo thì ở đoạn này, sông Hương được bố cục theo chiều sâu của lịch sử. Nó ghi dấu những chiến công, lặng khóc cho những hi sinh âm thầm, vùng lên quật khởi…> giống như một tấm gương soi vào lịch sử. Sông Hương như biết bao chiến sĩ vô danh trên dải đất hình chữ S. (Sinh ra không phải cầm súng cầm mác nhưng kẻ thù buộc ta phải đấu tran. Khi bình yên, họ lại trở về với cuộc sống bình thường, trở về bản tính tự nhiên muôn thủa , như sông Hương “làm một người con gái dịu dàng của đất nước”)

+ Trong mối quan hệ với thi ca:

– Có một dòng sông thi ca về sông Hương mà nước luôn đổi màu.(thơ Tản Đà, Cao Bá Quát, Bà huyện Thanh Quan, Tố Hữu).
– Nhà thơ hỏi với trời, với đất: Ai đã đặt tên cho dòng sông?

• Đối tượng hỏi: đất, trời.
• Nội dung hỏi: ai đã đặt tên cho dòng sông? > câu hỏi dường như không thể có một lời đáp cụ thể
• Mục đích:

o Không phải để hỏi nguồn gốc của một danh xưng địa lý thong thường mà là một sự nhấn mạnh, ẩn chứa niềm tự hào sâu sắc về dòng sông quê hương.
o Gợi mở cho người đọc những hướng trả lời khác nhau bằng trải nghỉệm văn hóa của bản thân.
ð Tên riêng của một dòng sông có thể do một cá nhân nào đó đặt ra, qua năm tháng, danh xưng của tác giả bị mai một, nó trở thành tài sản chung của cộng đồng, Tuy nhiên, cái tên đích thực của dòng sông phải là danh từ gắn với biểu tượng văn hóa, tinh thần, chiều sâu lịch sử của một dân tộc. Ở khía cạnh này, chính những người dân bình thường – những người sáng tạo ra văn hóa, văn học, lịch sử là những người “ đã đặt tên cho dòng sông”

d. Một vài đặc sắc nghệ thuật

+ Ngôn ngữ: phong phú, giàu hình ảnh, gợi cảm.
+ Hình ảnh: so sánh độc đáo bằng liên tưởng lãng mạn, đậm chất trữ tình.
+ Thủ pháp: nhân hóa > Sông Hương được cảm nhận như một sinh thể sống động (là người con gái dịu dáng đằm thắm với tất cả các cung bậc cảm xúc) > thuận lợi để đan cài những suy tưởng về văn hóa, lịch sử, về truyền thống con người và đất nước Việt Nam.

Chả là mình vừa được cô cho viết bài văn về nhà làm đề bài là:

“Sông Hương là vậy, dòng sông của thời gian ngân vang, của sử viết giữa màu cỏ lá xanh biếc. Khi nghe lời gọi, nó biết cách tự biến đời mình làm một chiến công, để rồi nó trở về với cuộc sống bình thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước. Thỉnh thoảng, tôi vẫn còn gặp trong những ngày nàng đem áo ra phơi, một sắc áo cưới của Huế ngày xưa, rất xưa: màu áo lục điều với loại vải vân thưa màu xanh tràm lồng lên một màu đỏ ở bên trong, tạo thành một màu tím ẩn hiện, thấp thoáng theo bóng người, thuở ấy các cô dâu trẻ vẫn mặc sau tiết sương giáng. Đấy cũng chính là màu của sương khói trên sông Hương, giống như tấm voan huyền ảo của tự nhiên, sau đó ẩn giấu khuôn mặt thực của dòng sông…”

Anh chị hãy cảm nhận về đoạn thơ trên ( in trong sgk 12 tập 1 tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông” .

Ai biết làm đề bài này ko chỉ minh với , thank nhiều nha !!!!!!!

 

Mỗi người có một cách cảm nhận bạn ạ. Để người khác cảm nhận giùm bạn thì hơi khó.

Với mình, đọc đoạn văn trên mình cảm nhận được một bức tranh đẹp, vừa huyền ảo lung linh, vừa có chút huyền bí của dòng sông Hương. Một bức tranh với những gam màu đậm nhưng không chói, những nét chấm phá điểm xuyết vào bức tranh lớn, kết hợp giữa thời gian như lùi về tận quá khứ xa xưa, và không gian bao la của dòng sông Hương êm đềm. Con người là nét nổi bật trong bức tranh ấy, những người con gái Huế dịu dàng, duyên dáng, làm cho dòng sông Hương vốn đã dịu dàng càng trở nên nữ tính. Luật xa gần được tác vận dụng linh hoạt. Ở đầu đoạn văn tác giả như đang phóng tầm mắt nhìn bao quát toàn cảnh dòng sông, thấy màu cỏ lá xanh biếc. Rồi ống kính quan sát của tác giả tập trung vào những chiếc áo, những con người. Và ống kính ấy lại trở lại quan sát toàn cảnh với sương khói trên mặt sông.

Tóm lại, bằng ngòi bút sắc sảo bậc thầy của mình, Hoàng Phù Ngọc Tường đã biến cảnh sắc của dòng sông Hương thành một bức tranh đẹp, huyền ảo lung linh, giao hòa cả thời gian và không gian. Dòng sông Hương không còn là một con sông bình thường như bao con sông khác nữa. Nó là một dòng sông huyền diệu, mang âm hưởng của lịch sử ngàn năm, chiều sâu của thời gian và chiều rộng của không gian. Nó không còn là một vật vô tri vô giác nữa mà là dòng sông mang tính cách kín đáo, e ấp của người con gái xứ Huế hiền hòa. .

1. Cảm xúc của tác giả trước vẻ đẹp sông Hương : được khơi gợi từ không gian và thời gian cụ thể.

(Đoạn 1)

Đó là khu vườn cổ sầm uất, bên dòng sông ‘tỏa sáng một thần thái yên tĩnh và khoáng đạt’. Đó là những kí ức về Nguyễn Du, truyện Kiều: hình ảnh Nguyễn Du ngồi đọc Kiều dưới mái rêu phong, miên man trong vẻ đẹp của dong sông đang đổi sắc không ngừng và mùi hương của hoa trái trong vườn.

Đó là âm sắc Huế thấp thoáng trong ‘Truyện Kiều’ : dòng sông đáy nước in trời , nội cỏ thơm, nắng vàng, khói biếc, dương liễu u hoài, hoa trà mi nồng nàn ,mùa thu quan san, vầng trăng thắm thiết,…_Cái bóng mông lung trong thơ Nguyễn Du, ‘như một vang bóng thời gian, cặp tình nhân lí tưởng của Truyện Kiều: tìm kiếm, đuổi bắt, hào hoa, đam mê, thi ca và âm nhạc, gắn bó với nhau trong một tình yêu muôn thuở’.

2.Vẻ đẹp dòng sông Hương ở thượng nguồn hóng khoáng và man dại

Sức sống mãnh liệt, hoang dại, dịu dàng, đắm say, như ‘một bản trường ca của rừng già , rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn’. Khi chảy qua miền địa hình hiểm trở, sông Hương mang vẻ đẹp dữ dội: ‘mãnh liệt qua ghềnh thác, cuộn xoắn như cơn lốc xoáy vào đáy vực bí ẩn’, nhưng cũng có lúc lại ‘dịu dàng, đắm say giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng’.Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương như một ‘cô gái Digan, phóng khoáng và man dại’, bởi rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ , một tâm hồn tự do và trong sáng.Nghệ thuật: so sánh, tu từ, ẩn dụ và nhân hóa.

3.Sông Hương khi về đến ngoại vi thành phố

‘Sắc đẹp dịu dàng , trí tuệ , người mẹ phù sa của một vùng văn hóa ,xứ sở’, dòng sông duy nhất chỉ đi qua thành phố Huế. Với vốn hiểu biết sâu sắc về địa lí, văn hóa, lịch sử, tác giả miêu tả dòng sông thật sinh động vói cảm nhận mang nhiều khác biệt.

Sông Hương như ‘người con gái đẹp ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại (hình ảnh thơ mộng gợi liên tưởng cổ tích đến nàng công chúa ngủ trong rừng), Dòng sông hiện lên với ‘khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm’.Lưu vực êm ả, thanh bình, vui tươi_giữa những bãi bờ xanh biếc , nhiều màu sắc trầm mặc, triết lí.

Những lăng tẩm với ‘giấc ngủ nghìn năm của vua chúa được phong kín trong lòng những rừng thông u tịch và niềm kiêu hãnh âm u của những lăng tẩm lan tỏa khắp cả một vùng thượng lưu’.

Vói những quan sát tinh tế, ngôn ngữ giàu hình tượng, so sánh, ẩn dụ , sông Hương trong dư vang Trường Sơn, dòng sông mềm như tấm lụa’. ‘Những dãy đồi sừng sững như thành quách, với những đỉnh cao đột khởi :Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo’, những ngọn đồi đã tạo ra những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời ‘sớm xanh, trưa vàng ,chiều tím’ rất lạ và đặc trưng như người Huề từng nhận xét.

Sự thay đổi tính cách của người con gái sông Hương đưa ta đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, một cô gái Digan, man dại và phóng khoáng đã trở nên dịu dàng, e lệ, như ‘người con gái đẹp được người tình mong đợi đến đánh thức’, ‘người mẹ phù sa của cả một vùng văn hóa xứ sở’.

Thoảng đâu đó, mơ hồ mà vang vọng trong tâm thức Huế là tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga, tiến gà từ xóm làng trung du bát ngát